Trong khi gói kích cầu đang có những dấu hiệu tích cực thì nhiều nhà kinh tế cho rằng nhà nước nên ngưng lại để tránh tình trạng hậu suy thoái có thể gây bất lợi cho sức chịu đựng của nền tài chánh Việt Nam.
Mới đây Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (ADB) cũng vừa cho Việt Nam vay 500 triệu đôla để hỗ trợ gói kích cầu nhằm giảm bớt khả năng lạm phát có thể xảy ra trong những tháng tới.
Mặc Lâm phỏng vấn TS Võ Trí Thành, Trưởng Ban Nghiên Cứu Chính Sách Hội Nhập Quốc Tế, để biết thêm những chi tiết về vấn đề này.
Mặc Lâm: Thưa, trước nhất xin cảm ơn Tiến Sĩ đã giúp cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn ngày hôm nay. Thưa ông xin ông cho biết sau khi gói kích cầu đã được tung ra thì tình trạng phục hồi của nền kinh tế có biểu hiện gì rõ nét nhất?
TS Võ Trí Thành: Tôi nghĩ rằng sự phục hồi nó đã trở nên rõ ràng hơn mặc dù nó còn yếu ớt, dù là nếu mà nhìn cả nền kinh tế toàn cầu hay là Việt Nam thì rõ ràng là những cái chính sách của những nước hỗ trợ cũng như là cái gói kích thích kinh tế của chính phủ Việt Nam nó cũng có tác dụng.
Mặc Lâm: Bên cạnh những dấu hiệu mà ông cho là đáng khích lệ đó thì có điều gì cần phải điều chỉnh hay không? Chẳng hạn như tăng thêm nguồn tiền vào gói kích cầu hay ngưng lại để đề phòng lạm phát, thưa ông?
TS Võ Trí Thành: Tất nhiên là những sự can thiệp của nhà nước với mức độ cao như thời gian vừa qua thì nó cũng gây ra những cái méo mó nhất định trong cái phân bổ nguồn lực, và chính vì vậy mà cũng cần phải tính đến một giai đoạn chuyển tiếp, một giai đoạn tạm gọi là "rút lui" khỏi những sự can thiệp nó quá mức mặc dù là thời gian qua là cần thiết.
Thế nhưng nếu anh mà không tính toán với những cái biến đổi bên ngoài mà anh lại tiếp tục nới rộng một cách nó quá đáng chẳng hạn thì nó lại làm cho cái rủi ro về mặt lạm phát, rủi ro đối với hệ thống tài chính - ngân hàng, thì nó lại tăng lên.
TS Võ Trí Thành
Mặc Lâm: Ông có thể giải thích tại sao gói kích cầu đang có dấu hiệu tốt lại phải ngưng lại?
TS Võ Trí Thành: Ở đây nó có hai cái rủi ro, một cái rủi ro là với một cái nền kinh tế tăng trưởng như Việt Nam và trong bản thân nó (thì) nó vẫn chứa đựng thì nó vẫn còn tồn tại nó liên quan tới nền kinh tế vĩ mô, ví dụ như lạm phát, ví dụ như các thanh toán quốc tế, ví dụ như hệ thống tài chính - ngân hàng. Một cái rủi ro nữa là bên cạnh cái đấy thì có cái rủi ro là nó gắn với cái sự khéo léo điều chỉnh chính sách, tức là anh làm sao cái bước tạm gọi là quá độ ấy nó chuyển một cách bình thản, phẳng lặng, đỡ chao đảo thì đấy là cái giỏi trong cái nghệ thuật điều hành và làm sao anh giảm thiểu được những cái rủi ro và tôi nói là nó vốn có trong một nền kinh tế như nền kinh tế Việt Nam, một nền kinh tế chuyển đổi, một nền kinh tế mở cửa, một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng thời gian qua nó tương đối nhanh. Cái thứ hai là cái rủi ro ấy nó có thể tăng thêm hay là nó giảm xuống mọi sự điều chỉnh về chính sách từ cái bước là cần một cái sự can thiệp rất là mạnh mẽ cái gói kích cầu kích thích kinh tế rất là lớn để mà chống suy giảm để hỗ trợ cho nền kinh tế sang cái bước là cái nền kinh tế vận hành trong cái điều kiện nó tạm gọi là bình thường hơn. Tôi nghĩ rằng đấy là cái khéo léo trong cái điều hành chính sách.
Mặc Lâm: Thưa, trong vấn đề điều hành chính sách tài chánh thì bài toán lãi suất hiện nay vẫn đang làm đau đầu nhiều nhà hoạch định chính sách. Tiến Sĩ có cho rằng nhà nước nên tiếp tục can thiệp vào lãi suất để kiểm soát hiệu quả hơn chính sách tiền tệ hay không?
TS Võ Trí Thành: Ta đều biết là nền kinh tế Việt Nam thì cái mức tăng trưởng nó có phục hồi nhưng mà nó vẫn còn thấp so với lại tiềm năng của nó trong cái đánh giá chung, ví dụ tiềm năng kinh tế Việt Nam tăng trưởng khoảng 7-8% thì cái mức tăng trưởng hiện nay khoảng 5 hoặc năm sau có thể là 6 hoặc 7%, nó vẫn thấp hơn cái mức tiềm năng. Cái thứ hai là cái sự hồi phục kinh tế thế giới vẫn được đánh giá là nó tương đối yếu và nó cũng còn bấp bênh, bất định, dường như cái đấy nó nói lên một điều là cái hỗ trợ của nhà nước vẫn cần thiết. Thì như tôi nói tất nhiên nó không phải là ồ ạt, nó không phải là nhiều về quy mô, về mức độ như là thời gian vừa qua. Cái khó thứ hai và chính vì vậy nếu mà chính sách tiền tệ chính phủ ta thắt chặt quá sớm thì có thể nó lại làm cho nền kinh tế khó khăn hơn. Thế nhưng nếu anh mà không tính toán với những cái biến đổi bên ngoài mà anh lại tiếp tục nới rộng một cách nó quá đáng chẳng hạn thì nó lại làm cho cái rủi ro về mặt lạm phát, rủi ro đối với hệ thống tài chính - ngân hàng, thì nó lại tăng lên. Chính vì vậy mà cái điều hành khá là linh hoạt theo cái biến chuyển của tình hình trong nước và ngoài nước.
Mặc Lâm: Mới đây thì Ngân Hàng Phát Triển Á Châu đã chấp thuận cho Việt Nam một khoản vay 500 triệu dollar. Xin Tiến Sĩ cho biết khoản vay này ngoài việc hỗ trợ gói kích cầu thì nhà nước có thể dùng một phần nào đó để bù vào khoản ngân sách đang bị thiếu hụt hay không, thưa ông?
TS Võ Trí Thành: Đó là cái khoản vay theo cái chương trình của ADB gọi là hỗ trợ chống lại cái hệ quả bất lợi của cuộc khủng hoảng hiện nay. Về cái vay này là chủ yếu phát triển cơ sở hạ tầng rồi những cái chương trình mục tiêu khác và với nông nghiệp, nông thôn, xóa đói giảm nghèo, v.v. nó không phải là trực tiếp nằm trong chính sách vì khi chính phủ Việt Nam vay nó sẽ có cái gọi là tín dụng nhà nuớc nhưng mà rõ ràng nó cũng liên quan đến ngân sách ở cái chỗ là cái phần mà sau này nhà nước phải trả hoặc là nhà nước bảo lãnh phải trả dù là qua cái tín dụng này.
Với cái mức ấy thì thường được đánh giá là tương đối là an toàn về trung hạn, nhưng mà rõ ràng nó cũng là một vấn đề mà Việt Nam phải quan tâm.
TS Võ Trí Thành
Mặc Lâm: Thưa, liệu trong dài hạn thì gánh nặng lãi suất của khoản vay này có thể làm tăng thêm khả năng lạm phát hay không?
TS Võ Trí Thành: Việc vay này nó cũng là một mục tiêu tích cực vì nó làm giảm cái áp lực trong cán cân thanh toán quốc tế - Việt Nam đối với cái thị trường ngoại hối Việt Nam thì nó có cái đóng góp tích cực như vậy, nó cũng là đóng góp tích cực trong cái bối cảnh suy giảm vì nó tạo thêm tăng cái đầu tư, thì cái ấy cũng làm cho tốt, chủ yếu kết cấu hạ tầng như tôi đã nói nó nằm trong cái chương trình xóa đói giảm nghèo, cái chương trình mục tiêu phát triển nông nghiệp nông thôn chẳng hạn. Nhưng mà về trung và dài hạn thì nó có hai vấn đề, một là một vấn đề muôn thuở đối với đầu tư nhà nước là hiệu quả, làm sao đảm bảo được cái hiệu quả, và cái thứ hai là cái tính bền vững về mặt nợ nước ngoài. Thực ra thì nợ nước ngoài của Việt Nam hiện nay nói chung, ít nhất là trung hạn, nằm trong tầm kiểm soát dù là xét theo góc độ phần trăm GDP là dưới 30% tổng số nợ hay dịch vụ nợ thì nó rất là thấp, nó khoảng 4-5%. Với cái mức ấy thì thường được đánh giá là tương đối là an toàn về trung hạn, nhưng mà rõ ràng nó cũng là một vấn đề mà Việt Nam phải quan tâm.
Mặc Lâm: Xin cám ơn Tiến Sĩ đã cho chúng tôi cơ hội thực hiện cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.
|
|
Phần âm thanh |
|
|
Tải xuống âm thanh |
|
|
Email bản tin này |
|
|
Đăng ký bản tin |
|
|
In bản tin này |
|
|
Chia sẻ bài này |
Hội Nghị Nhóm Tư Vấn tổ chức tại Hà Nội ngày 3 và 4 tháng 12
Thủ tướng Bỉ được chọn làm chủ tịch EU
Đồng đô la Mỹ tiếp tục mất giá
Triển vọng hồi phục kinh tế của Hoa Kỳ
Chính phủ Việt Nam tổ chức cuộc họp với gần 1000 Việt kiều tại Hà Nội
Dự án “Phụ nữ nông thôn và kinh tế thị trường”
Gần phân nửa số tập đoàn và tổng cty Nhà nước kinh doanh không hiệu quả
World bank: Kinh tế Việt Nam hồi phục một cách đáng ngạc nhiên