Có nhiều giải pháp được đề nghị nhưng mọi việc chừng như vẫn dậm chân tại chỗ.
Sản xuất nhỏ lẻ
Hàng năm ngừơi nông dân cả nứơc sản xuất trên dưới 38 triệu tấn lúa. Khó tưởng tượng là diện tích trồng lúa hơn 4 triệu ha ở cả ba miền Nam Trung Bắc đã bị chia cắt thành vài chục triệu thửa ruộng.
Miền Bắc, miền Trung mỗi hộ nông dân có khi chỉ được vài sào ruộng, trong khi miền Nam, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long tình trạng có khá hơn nhưng vẫn là nông hộ nhỏ, như lời ngừơi nông dân mô tả cho chúng tôi:
"S ố nhi ều m ỗi h ộ làm 1 ha tr ở l ại, s ố làm h ơn 3 ha là ít, cũng có ng ười có 10 ha nh ưng là hi ếm. Nh ững h ộ làm d ứơi m ột ha thì con cái h ọ ph ải đi làm thuê làm mu ớn cho nh ững ng ười nhi ều đ ất, s ố khác ph ải đi x ứ khác. Nh ưng nói chung v ẫn ph ải bám l ấy đ ất mà s ống, b ỏ ru ộng đâu bi ết làm gì."
Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa xuất khẩu chủ yếu của VN, mỗi năm tổng lượng gạo bán ra nứơc ngoài trên 5 triệu tấn đã đưa VN vào vị trí cường quốc xuất khẩu gạo lớn thứ nhì thế giới.
Những hộ làm dứơi một ha thì con cái họ phải đi làm thuê làm muớn cho những người nhiều đất, số khác phải đi xứ khác. Nhưng nói chung vẫn phải bám lấy đất mà sống, bỏ ruộng đâu biết làm gì.
Nông dân ĐBSCL<br/>
Tuy vậy, VN bị thiệt khá nhiều, cả nông dân lẫn doanh nghiệp bị mất lợi nhuận do chi phí sản xuất cao và chất lượng gạo kém hơn những nứơc khác điển hình là Thái Lan.
Nhìn vào kim ngạch xuất khẩu gạo gần 3 tỷ đô la của năm 2008, nhiều người có thể tự hào về hạt gạo VN. Thế nhưng dứơi mắt nhà khoa học, sản xuất lúa gạo của VN còn quá lạc hậu, giá gạo không cao do chất lượng không ổn định. GSTS Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp nhiều uy tín của miền Nam có lần nhận định:
"Tình tr ạng nông dân mình làm ăn cá th ể m ạnh ai n ấy làm, cho nên trên cùng m ột cánh đ ồng hi ện nay có vài ch ục gi ống lúa. Th ương lái mua v ề tr ộn l ại h ọ đâu có tách ra, đâu có nhà kho riêng cho m ỗi gi ống đâu. Do đó lúa c ủa mình khi gom l ại nó không có giá tr ị, m ở bao ra thì th ấy nhi ếu th ứ g ạo ở trong đó, ng ừơi mua ng ười ta chán l ắm."
Giải pháp?
Trong thập niên vừa qua, giới chuyên gia cùng các đại biểu quốc hội luôn đề cập tới vấn đề tích tụ ruộng đất, để có thể sản xuất lớn áp dụng cơ giới và kỹ thuật hiện đại.
Tuy nhiên ruộng đồng xé nhỏ hàng chục triệu thửa là vấn đề nan giải, trong khi quĩ đất lại eo hẹp, tiến trình đô thị hoá cũng làm biến mất nhiều vùng trứơc kia là đất dành cho canh tác.
Trong hoàn cảnh như vừa nói, giải pháp tập hợp nông dân canh tác tập trung được các chuyên gia đề cập tới. Trong số này có TS Nguyễn Quang A, viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển, một tổ chức tư nhân ở Hà Nội:
"Tôi nghĩ là ch ừng nào ch ưa có s ự thay đ ổi t ư duy liên quan t ới đ ất đai, ch ừng nào không s ửa đ ược lu ật đ ất đai m ột cách khá tri ệt đ ể, giao quy ền s ở h ữu cho ng ừơi dân, b ớt hay lo ại b ỏ h ạn đi ền. Quan tr ọng nh ất là có nh ững chính sách đ ể kích thích ng ừơi dân t ự t ập h ọp l ại, nhà n ứơc ph ải có nh ững chính sách h ỗ tr ợ khuy ến khích sao cho h ọ cùng nhau t ập h ọp t ạo s ức m ạnh cho h ọ."
Tuy vậy, các giới chức ngành nông nghiệp thuộc chính phủ lại tỏ ra dè dặt về những khả năng vừa nói. TS Phạm Văn Dư, Cục Phó Cục trồng trọt khu vực phía Nam nhận định:
"Hi ện nay v ấn đ ề đó còn khá lâu dài, không ph ải chúng ta gi ải quy ết m ột ngày m ột b ữa là đ ược. Các h ộ có th ể liên k ết v ới nhau đ ể ứng d ụng ti ến b ộ k ỹ thu ật, giao thông thu ỷ l ợi… v ới di ện tích khá r ộng c ủa nhi ều h ộ k ết h ợp l ại thì tôi nghĩ r ằng đi ều đó là r ất t ốt đ ể cho s ản xu ất phát tri ển và ổn đ ịnh đ ồng th ời có th ể ứng d ụng khoa h ọc k ỹ thu ật, nh ư th ế thì s ự b ền v ững c ủa s ản xu ất lúa g ạo s ẽ t ốt h ơn."
Quan trọng nhất là có những chính sách để kích thích ngừơi dân tự tập họp lại, nhà nứơc phải có những chính sách hỗ trợ khuyến khích sao cho họ cùng nhau tập họp tạo sức mạnh cho họ.
TS Nguyễn Quang A
Hai năm gần đây, một vài tổ chức hợp tác xã kiểu mới đã hình thành ở đồng bằng sông Cửu Long, doanh nghiệp đặt hàng nông dân sản xuất và bao tiêu sản phẩm. Tuy nhiên những loại hình như thế còn rất hạn chế, sản lượng của mối liên kết đặc biệt này không đáng kể trong tổng lượng gạo xuất khẩu hàng năm.
Để ngừơi nông dân tin vai trò hợp tác xã dù là kiểu mới trên thực tế rất khó khăn. Một nông dân vùng sông nứơc Cửu Long phát biểu:
"Không có lòng tin, b ởi vì d ưới em không nh ư trên An Giang mà bao tiêu s ản ph ẩm công ty chính th ức mua t ại đám t ại ru ộng. Ở đây thì ch ỉ có th ương buôn mua, qua tay th ương buôn h ết, làm m ặt hàng gì cũng qua tay th ương buôn, ng ừơi ta có l ợi nhu ận m ới mua. Bây gi ờ em ở trong này thì làm cái gì thí d ụ h ạt gi ống ho ặc nuôi con gì v ật gì cũng coi th ương buôn mua ch ấp nh ận thì em m ới làm."
Một cuộc cách mạng nông nghiệp nông thôn khó xảy ra trong tương lai gần, khi VN chưa công nhận quyền sở hữu ruộng đất mà chỉ cấp quyền sử dụng đất có thời hạn.
Sự tích tụ ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa gạo sẽ luôn bị vứơng mắc về pháp luật, dù rằng cũng đã có những địa chủ thời @ chấp nhận những rủi ro, nhận cầm cố hoặc sang nhượng thuê ruộng, tích tụ tới 60 mẫu đất ruộng để trồng lúa.
Tuy nhiên đây cũng chỉ là những giai thoại trong một đất nước mà đại đa số nông dân mỗi gia đình canh tác trên một thửa ruộng nhỏ hơn 1 ha.
