Ảnh hưởng môi trường và xã hội
So với các nước trong khu vực, Việt Nam được coi là nước có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú, trong đó một số loại có trữ lượng lớn như than đá, quặng kim loại, vật liệu xây dựng như cát, vôi, đất sét. Tuy nhiên là một nước đang phát triển, Việt nam hiện đang phải đối mặt với tình trạng khai thác khoáng sản tràn lan, không có quy hoạch, gây lãng phí, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh.
Tiến sĩ Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng bộ Tài nguyên môi trường đánh giá về tình hình khai thác tài nguyên khoáng sản của Việt nam trong thời gian vừa qua "đã xảy ra nhiều trường hợp làm tác động xấu tới môi trường, khai thác khoáng sản dưới dạng quặng thô quá nhiều. Tất cả những cái đấy đã xảy ra trên thực tế và tạo áp lực bức xúc rất lớn lên hệ thống quản lý và họat động của thị trường."
Môi trường, nguồn nước bị ô nhiễm, đất đai xâm hại, hạ tầng cơ sở bị xuống cấp… chưa nói đến các tệ nạn xã hội như bạo lực, mại dâm, nghiện ngập kéo theo.
Ô. Nghiêm Vũ Khải
Phó chủ nhiệm Ủy ban khoa học công nghệ và môi trường Quốc hội Nghiêm Vũ Khải nói với báo Việt nam net rằng "lợi ích đang nghiêng về phía những người được cấp mỏ để khai thác hoặc chuyển nhượng. Mặc dù họ nộp thuế, phí, giải quyết công ăn việc làm cho một số người dân địa phương, nhưng thực ra người dân sống ở những nơi có khoáng sản lại đang phải gánh chịu nhiều thiệt hại. Môi trường, nguồn nước bị ô nhiễm, đất đai xâm hại, hạ tầng cơ sở bị xuống cấp… chưa nói đến các tệ nạn xã hội như bạo lực, mại dâm, nghiện ngập kéo theo".
Nói đến ô nhiễm do khai thác khoáng sản, người ta không thể không nghĩ đến tỉnh Quảng ninh, là tỉnh có tiềm năng du lịch và cũng là nơi có mỏ than với trữ lượng lớn của Việt nam. Khai thác khoáng sản và du lịch là hai ngành mang lại thu nhập cao cho tỉnh này giúp kinh tế Quảng ninh duy trì mức tăng trưởng trên 12% năm.
Tuy nhiên theo Cục bảo vệ môi trường, Bộ Tài nguyên môi trường, chất thải ra môi trường ở đây đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Ở khu vực Cửa Ông, kết quả quan trắc hàm lượng bụi và tiếng ồn trong khu vực sàng tuyển than đều vượt tiêu chuẩn cho phép. Nước thải tại cống chảy qua khu vực hồ xử lý nước thải có hàm lượng amoniac vượt 4,2 lần quy định. Tương tự, hàm lượng các chất ô nhiễm hữu cơ và vi khuẩn cũng đều vượt tiêu chuẩn cho phép.

Trong thời gian gần đây báo chí trong nước cũng đề cập đến tình trạng khai thác cát quá mức tại các con sông và bờ biển để phục vụ xây dựng và xuất khẩu. Bộ trưởng tài nguyên môi trường Phạm Khôi Nguyên đã phải thừa nhận trước quốc hội rằng Nếu không ngăn chặn kịp thời thì mỗi năm Việt nam mất một hòn đảo rộng 15 cây số.
Hiện tại các dòng sông của Việt nam từ miền Bắc đến miền Nam vẫn tiếp tục chịu cảnh khai thác cát ngày đêm do nhu cầu nguyên vật liệu cho xây dựng và xuất khẩu vẫn tiếp tục tăng cao. Thậm chí cả những con sông nổi tiếng như sông Hương ở thành phố Huế cũng phải chịu cảnh bị lấy cát quá mức.
Tiến sĩ Lê Văn Thăng, Chủ tịch chi hội Viện tài nguyên môi trường và công nghệ sinh học, đại học Huế, nói rằng "không chỉ riêng sông Hương mà bất kỳ con sông nào cũng thế thôi. Việc khai thác cát không đúng kỹ thuật thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến dòng sông và xói lở sông. Do mình khai thác quá nhiều thì tạo ra các lỗ hổng ở dưới chân của các bờ. Khi dòng sông xoáy thì nó đào sâu nó làm cho các bờ sông dễ bị sạt lở."
Ở đây chúng ta tạo ra công cụ tài chính để quản lý việc khai thác khoáng sản, đó là vấn đề quan trọng, thông qua việc định giá, thông qua các sắc thuế về khoáng sản, chúng ta cần các công cụ tài chính hợp lý.
Ô. Đặng Hùng Võ
Và ông nói thêm về những ảnh hưởng của tình trạng khai thác cát với cuộc sống của người dân là "khi đã sạt lở bờ sông thì ảnh hưởng đầu tiên đến các công trình xây dựng dân dụng, nhà ở xung quanh hai bên bờ hoặc là các đường xá, đường quốc lộ, giao thông, sau đó nó ảnh hưởng đến các vấn đề khác nữa như nó gây tình trạng người dân không an tâm ở trong bán kính có khả năng bị ảnh hưởng, chắc chắn ảnh hưởng đến tâm lý người dân."
Báo Dân trí cho biết sau 4 năm khai thác cát đã có 4 hộ dân của xã Thủy Bằng huyện Hương thủy, Huế, đã phải di dời nhà của mình do nước vào đến móng nhà.
Cần xem xét lại
Ông Thăng cho biết đến giờ chính quyền địa phương đã có những biện pháp quản lý tích cực hơn đối với vấn đề khai thác cát và hiện tượng trên có giảm. Tuy nhiên ông cho rằng tình trạng khai thác cát ở đây chưa thể chấp nhận được và cần phải được giảm hơn nữa "vì rõ ràng đây là một loại tài nguyên được phân bố ở trong điều kiện hết sức nhạy cảm. Nếu anh khai thác quá một tí thì nó cũng có ảnh hưởng. Cho nên tôi nghĩ là cải thiện tốt hơn nữa, hạn chế càng tối đa thì chắc chắn sẽ bảo vệ bờ sông được tốt hơn."

Trước những bức xúc về tình trạng khai thác tài nguyên khoáng sản trên cả nước, chính phủ đã đệ trình quốc hội xem xét luật khoáng sản sửa đổi, trong đó có những quy định về đấu giá quyền thăm dò khai thác khoáng sản, phân cấp trong việc thăm do khoáng sản, tổ chức đấu giá và cấp phép cho bộ Tài nguyên môi trường để tránh tình trạng địa phương cấp phép khai thác mỏ ồ ạt như thời gian qua.
Nguyên thứ trưởng Đặng Hùng Võ cho rằng dự thảo luật sửa đổi lần này có "hai điểm quan trọng cần phải làm, một là luật chỉ đặt nguyên tắc cho quy hoạch. Luật không thể đi làm quy hoạch. Vấn đề thứ hai ta cần phải quan tâm tới là cơ chế quản lý tài chính đối với việc khai thác khoáng sản.
Ở đây chúng ta tạo ra công cụ tài chính để quản lý việc khai thác khoáng sản, đó là vấn đề quan trọng, thông qua việc định giá, thông qua các sắc thuế về khoáng sản, chúng ta cần các công cụ tài chính hợp lý.
Quy định là một chuyện nhưng cái việc chúng ta triển khai quy hoạch chiến lược như thế nào thì đó là cả một câu chuyện mà ta cần phải có thời gian.
Ô. Đặng Hùng Võ
Vấn đề còn lại thì tôi cho rằng chúng ta cũng như đã từng thuê tư vấn nước ngoài vào để xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển thủ đô Hà nội, thì cái việc thuê tư vấn nước ngoài vào quy hoạch khai thác khoáng sản, tất nhiên là trong sự hợp tác với các nhà chiến lược khoáng sản của Việt nam, cái đó là chúng ta có thể làm được.
Quy định là một chuyện nhưng cái việc chúng ta triển khai quy hoạch chiến lược như thế nào thì đó là cả một câu chuyện mà ta cần phải có thời gian. Theo tôi nghĩ đấy là cái việc mà ta triển khai trong thực tế không lấn cấn vào việc thông qua luật lần này.”
Đây là lần thứ hai Việt nam tiến hành sửa đổi luật khoáng sản. Lần đầu tiên là vào năm 2005 khi bàn giao quyền quản lý khai thác tài nguyên khoáng sản từ Bộ công nghiệp sang Bộ tài nguyên môi trường. Theo tiến sĩ Đặng Hùng Võ, việc đưa ra sửa đổi lần này tuy có hơi muộn nhưng dẫu sao muộn còn hơn không.
