Việt Nam học hỏi thế giới nhằm cải tổ giáo dục

2008-06-19

Công luận trong nước cho là chương trình giảng dạy quá nặng nề, khô cứng đã khiến cho đa số học sinh trung học không mang nổi lượng kiến thức quá lớn để áp dụng vào bài thi tuyển sinh đại học.

Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Lân Dũng, đại biểu Quốc Hội, chia sẻ với phóng viên Mặc Lâm kinh nghiệm của chính mình, một nhà giáo lâu năm trong tình hình giáo dục hiện nay.

Mặc Lâm: Thưa Giáo Sư, với kinh nghiệm của một người có chuyên môn và cũng từng đứng lớp nhiều năm, ông có nhận xét gì về chương trình giảng dạy hiện nay ở trong nước?

Giáo sư Nguyễn Lân Dũng: Vì tôi là chuyên gia về sinh học nên tôi thấy chương trình của môn sinh vật - sinh học
NguyenLanDung_gdt.gov.vn_250
Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Lân Dũng chuyên nghành sinh học, và là đại biểu Quốc Hội Việt Nam. Hình từ
Gdt.gov.nv
không giống các nước khác và là nặng. Ở cấp II ở Pháp không có môn sinh học, chỉ có môn khoa học về sự sống, khoa học về trái đất, thì các em học khái niệm chung chứ không học động vật, thực vật, cơ thể người, v.v. Cho nên ở Việt Nam chương tình học là nặng, vì vậy mà tôi rất muốn thay đổi chương trình. Nhưng mà mới thì rất khó bởi vừa thay 12 năm, bây giờ lại thay lại nữa thì khó lắm.

Nhiều thông tin có thể cập nhật dễ dàng ở trên internet và nó thay đổi hàng ngày. Tôi nghĩ là chỗ nào thầy không nhớ được thì bắt học trò nhớ làm gì. Cho nên chỉ nên học những khái niệm, những kiến thức để có thể hiểu được, chớ còn thì không thể bắt học sinh nhớ những con số cứng nhắc.
Mặc Lâm: Thưa Giáo Sư, với đề nghị của ông thì liệu khả năng của đa số dân chúng hiện nay có thể kham nổi tiền để mua sách giáo khoa hay không?
 
Giáo sư Nguyễn Lân Dũng: Tôi nghĩ nhất định phải thay đổi chương trình cho phù hợp với thế giới, nhưng mà nhà nước sẽ in sách giáo khoa và cho học sinh mượn, không bắt mua. Ở các nước người ta vẫn cho mượn, hễ hết học thì học trò sẽ trả lại. Em nào đánh mất thì mới phải mua thôi.

Mặc Lâm: Học sinh Việt Nam hiện đang đến truờng chỉ một buổi thôi, cho nên nếu áp dụng như chương trình các nước tiên tiến thì làm sao đủ thời gian theo học tại trường như học sinh các nước khác, thưa Ông?

Giáo sư Nguyễn Lân Dũng: Tất nhiên ở Việt Nam có khó khăn là học sinh học một buổi, và cho học sinh học hai buổi thì không phải nơi nào cũng làm được do thiếu trường sở. Thời gian học ít hơn, và các em ngoài việc học tập ra còn phải lao động thêm nữa. Cho nên chương trình không thể nào buộc học sinh nhớ những gì không đáng nhớ.

Bây giờ chúng ta sang thời đại internet rồi, nhiều thông tin có thể cập nhật dễ dàng ở trên internet và nó thay đổi hàng ngày. Tôi nghĩ là chỗ nào thầy không nhớ được thì bắt học trò nhớ làm gì. Cho nên chỉ nên học những khái niệm, những kiến thức để có thể hiểu được, chớ còn thì không thể bắt học sinh nhớ những con số cứng nhắc mà đến thầy giáo cũng chẳng nhớ được.

Mặc Lâm: Qua kinh nghiệm quan sát việc giảng dạy ở nhiều nơi trên thế giới của chính mình, Giáo sư có so sánh nào về nền giáo dục giữa Việt Nam và những nước mà tình trạng kinh tế cũng như thu nhập của người dân tương tự như chúng ta hay không?

Giáo sư Nguyễn Lân Dũng: Tôi có sang nước Nepal. Tôi thấy đấy là nước rất là nghèo nhưng mà họ làm giáo dục tốt, tại vì họ dạy chương trình phổ thông đến lớp 10 thì coi như xong Cấp II thì đủ kiến thức cơ bản rồi. Lên Cấp III họ học 2 năm thôi nhưng học phân ban rất sâu, họ phân làm 4 ban: ban quản trị kinh doanh, ban khoa học xã hội, và ban khoa học tự nhiên.

Ban khoa học tự nhiên được chia ra: một là vật lý, hai là sinh học. Vật lý để đi vào công nghiệp, sinh học để đi vào nông nghiệp, y học. Thế thì mỗi một ban chỉ có 4 môn thôi, cho nên thì giờ nhiều. Và tôi thấy quyển sách sinh học ở ban sinh học là 700 trang.

Thứ hai nữa là họ có hai hệ thống: hệ thống học tiếng Anh từ Cấp I cho nên cái quyển tôi mua là quyển sinh học bằng tiếng Anh. Và bên cạnh đó có hệ thống học tiếng Nepal, nhưng mà mỗi một phần thì đều có những giờ học tiếng Anh, để trong 10 năm là học sinh có thể nói được tiếng Anh. Chính vì vậy người Nepal tuy kinh tế rất thấp nhưng mà họ đi ra nước ngoài rất đông để mà học.

Nước Bỉ là nước vào hạng rất giàu, bình quân đầu người là 33.000 đô, nhưng không phải mọi người đều vào đại học. Ở Bỉ rất nhiều người vào các ngành thực hành để làm công nhân kỹ thuật và công nhân kỹ thuật lương cũng không kém gì kỹ sư, bác sĩ.
Hiện nay rất nhiều những chuyên gia có trình độ tiến sĩ của Nepal làm việc cho Liên Hiệp Quốc tôi gặp ở Việt Nam. Họ thua Việt Nam ở chỗ là họ không phổ cập được giáo dục ở cấp cao, nói chung là họ chỉ phổ cập ở Cấp I thôi, và nói chung là kinh tế nước họ rất thấp, điều kiện sống rất là khó khăn, nhưng mà giáo dục họ làm tốt. Tôi nghĩ mình cũng phải tham khảo kinh nghiệm của Nepal.

Mặc Lâm: Có dư luận cho rằng Việt Nam quá chú trọng việc cho con em mình phải vào đại học mà xem thường những con đường tiến thân khác như chuyên viên trung cấp hay cán bộ kỹ thuật. Giáo Sư có kinh nghiệm gì về chuyện này?

Giáo sư Nguyễn Lân Dũng: Việt Nam có xu thế ai cũng muốn vào đại học, đó là cái tính hiếu học rất quý của người Việt Nam, nhưng mà nếu ai cũng muốn vào đại học thì như vậy chúng ta sẽ rất thiếu những công nhân kỹ thuật.

Tôi sang Bỉ thì thấy nước Bỉ là nước vào hạng rất giàu, bình quân đầu người là 33.000 đô, nhưng không phải mọi người đều vào đại học. Ở Bỉ rất nhiều người vào các ngành thực hành để làm công nhân kỹ thuật và công nhân kỹ thuật lương cũng không kém gì kỹ sư, bác sĩ. Học sinh vào đại học rất dễ bởi vì bên Bỉ không có thi, ai muốn vào đại học cũng được.

Nhưng tôi thấy nên suy nghĩ cả hai kinh nghiệm của nước giàu và của nước nghèo. Ở nước giàu như Bỉ không phải mọi người đều học đại học và chất lượng rất là cao. Nước nghèo thì phân hoá rất lớn ở Cấp III  để mà các em có thể đi vào khoa học, có thể đi làm tiến sĩ ở nước ngoài, và trình độ kiến thức cũng như là tiếng Anh rất là khá. Tôi nghĩ tất cả những chuyện đó chúng tôi sẽ phải bàn và phải lấy ý kiến tập thể để cùng nhau bàn bạc chấn hưng lại nền giáo dục nước nhà.



 
Radio Free Asia
2025 M Street NW, Suite 300
Washington DC 20036, USA
202-530-4900
vietweb@rfa.org