Cuộc sống bất ổn của nữ công nhân Việt ở Malaysia

2008-06-13

Cách đây không lâu, Thanh Trúc từng kể cho quí vị nghe về chuyến đi của ông Trần Ngọc Thành, Chủ Tịch Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam Ở Nước Ngoài, từ Ba Lan sang Malaysia để tìm hiểu đời sống của công nhân Việt bên đó.

Hình do Linh mục Nguyễn Văn Hùng cung cấp.

Nơi cư trú của những nữ công nhân Việt Nam tại Malaysia.

Trở về, ông Trần Ngọc Thành đặc biệt  lưu tâm đến vấn đề là nữ công nhân Việt ở Malaysia bị mua bán từ công ty này sang công ty khác. 

Bán qua, bán lại

Điển hình là trường hợp một chị ở Nghệ An, hiện làm việc ở vùng quê Malaysia:  Qua được hai tháng rưỡi gần ba tháng, sang tháng thứ ba nó không có việc nó mới bán sang công ty thứ hai, rồi làm hai tháng mười ngày, hết việc nó cho nhà chị nghĩ hai tháng tiếp không có việc, nói chung nó đưa đi chỗ nọ không có việc rồi là nhà chị  phải nằm bơ vơ bất vất không có cơm ăn. Giờ nó đưa đến công ty này. Chị qua thế là bốn chủ rồi.

Hiện tại nhà chị làm cà phê với sữa khô, hồi mới đầu qua là chị làm gỗ ép xuất khẩu. Lúc nhà chị ký hợp đồng thì có một trăm thôi bây giờ môi giới nó bắt trả thêm thành  một trăm rưỡi một tháng đấy. Có nghĩa là chủ cũ nó bán qua môi giới, giờ nhà chị thuộc người của môi giới chứ chủ cũ nó bán rồi, nó bán thẳng rồi.

Thanh Trúc xin  thưa để  quí vị rõ hơn là khi qua Malaysia người lao động phải nộp cho môi giới một trăm ringgit mỗi tháng như đã ký trong hợp đồng. Thế nhưng khi qua tay chủ mới thì lao động bị môi giới đòi thêm năm mươi  ringgit, vị chi là một trăm năm mươi  ringgit trả cho môi giới mỗi tháng. 

Hiện tại tiền lương cơ bản của những cái ngày lễ ngày Tết thì  không được nghĩ, ốm đau tự mình bỏ tiền ra, không có một quyền lợi gì của một người công nhân ký trong hợp đồng hết. Như công ty nhà chị thì giờ mười  tám người  ở lại mười người để đi công ty khác chớ cái lứa nớ ký không theo hợp đồng một tí nào. Công nhân đình công để phản đối về cái chuyện tiền lương thì nó cũng không giải quyết. Coi như môi giới nó trực tiếp với chủ chứ còn nhà chị có biết chi đâu, chỉ có biết đến để làm làm thôi.

Tháng Năm vừa qua, Linh mục Nguyễn Văn Hùng, Giám Đốc Văn Phòng Trợ Giúp Pháp Lý Cho Công Nhân và Cô Dâu Việt ở Đài Loan, đã tới Malaysia thămổhỉ anh chị em công nhân Việt Nam.  Hầu hết những điều Linh mục Nguyễn Văn Hùng thuật lại không khác  những câu chuyện mắt thấy tai nghe của ông Trần Ngọc Thành :

Công nhân Việt Nam ở Mã Lai một ngày làm việc mười hai tiếng, tiền họ nhận được không đúng với hợp đồng mà họ đã ký ở Việt Nam. Ở Malaysia các công ty môi giới họ nhận công nhân từ Việt Nam qua, khi mà cong ty của họ hết việc thì họ bị bán đi bán lại cho những công ty môi giới khác.

Ông Trần Ngọc Thành

Công nhân Việt Nam ở Mã Lai một ngày làm việc mười hai tiếng, tiền họ nhận được không đúng với hợp đồng mà họ đã ký ở Việt Nam. Ở Malaysia các công ty môi giới họ nhận công nhân từ Việt Nam qua, khi mà cong ty của họ hết việc thì họ bị bán đi bán lại cho những công ty môi giới khác.

Cái chỗ ăn chỗ ở của  người ta rất là tệ hại và không  an toàn, đã có nhiều chị em bị trộm cướp vô nhà. Chính quyền địa phươntg cũng không có truy cứu và giúp đỡ cho nạn nhân.  Đó là ba điều nỗi bật tôi thấy trong chuyến đi vừa qua của chúng tôi.

Hoàn cảnh sống tồi tệ và thiếu an toàn

Linh mục Nguyễn Văn Hùng còn muốn nhấn mạnh đến hoàn cảnh sống tồi tệ và thiếu an toàn mà nữ công nhân Việt Nam phải gánh chịu khi sang làm việc ở Malaysia.

Sau khi đi thăm mười  hai địa điểm có lao động Việt Nam, từ Kuala Lumpur xuống vùng  Johor phía Nam Malaysia, Linh mục Hùng đưa ra trường hợp tiêu biểu, đó là hãng Flextronics ở Kuala Lumpur, chuyên sản  xuất vật liệu cho công ty điện tử Sony & Ericson:

Công ty này có khoảng năm trăm công nhân Việt Nam là công nhân nữ. Tiền lương căn bản của họ mỗi tháng như vậy là được 390 đồng tiền ringgit, tức là tiền Mã Lai đó. Nếu mà tính theo hợp đồng ký thì là tổng cộng phải tới khoảng chừng 830 ringgit một tháng.

Nhưng mà thực tế ra khi các chị em đến đó làm việc thì chỉ nhận được khoảng chừng 300 ringgit cho đến 400 ringgit một tháng mà thôi, khoảng chừng hơn 100 đô Mỹ. Cái số tiền lương căn bản mà họ đã ký ở Việt Nam thì đã không được công ty bên Mã Lai tôn trọng.

Thêm vào đó, chị em làm việc ở trong công ty này đã không được phát thẻ xanh, có nghĩa là cái thẻ công nhận họ là người ngoại quốc đang trú ngụ tại Mẫ Lai và đi làm ở đó. Và không có thẻ xanh mà khi ra ngoài thì cảnh sát bắt họ bất cứ lúc nào. Qua hơn một năm rồi mà trên người họ vẫn không có một giấy tờ gì khi họ đi ra ngoài cả.

Đại Sứ Quán Việt Nam ở Kuala Lumpur có biết đến và có giúp đỡ những trường hợp mà Linh mục Hùng vừa kể không? Câu trả lời là:

"Chúng tôi có hỏi công nhân Việt Nam về việc này thì họ nói họ có điện thoại đến hỏi nhưng mà đã không được giúp đỡ, cho nên họp không biết hỏi ai thành thử ra khi tôi còn ở đó thì tôi cũng không có cách nào giúp đỡ cho họ. Tôi có hỏi một số những người ở tại địa phương thì họ nói là chính công ty đó phải làm giấy tờ cho những công nhân này để công nhân này có thẻ xanh để họ đi ra ngoài mà không bị bắt bớ."

Mời quí vị  tìm hiểu tiếp về nếp sinh hoạt  của mấy trăm nữ công nhân Việt tại những nơi ở thiếu tiện nghi mà công ty Flextronics cung cấp cho họ:

"Về vấn đề ăn uống thì họ cho 500 công nhân này 10 cái bếp gas để nấu. Ở trong 10 cái này thì bị hỏng hết 4 cái rồi, như vậy còn 6 cái bếp mà có 500 người chen chúc nhau để nấu. Còn tắm giặt thì theo những người công nhân đó họ cho biết là không có chỗ tắm rửa cho chị em. Cho nên chỗ ăn chỗ ở rất là chật hẹp và chị em đã phải dậy từ sáng, 3 giờ sàng, và họ phải chờ cho đến 5 giờ sáng mới có chỗ để nấu ăn." 

Đó là đời sống nữ công nâhn Việt Nam ở ngay thủ đô Kuala Lumpur. Đi xa hơn, đến vùng Johor, Linh mục Nguyễn Văn Hùng cho biết:

"Tôi thấy hầu hết đều là những nơi ăn ở rất chật hẹp và thiếu vệ sinh. Và tôi đã chứng kiến một cái cảnh là ở trong đó có năm sáu chục người công nhân phụ nữ Việt Nam rất trẻ ở trong một cái tầng trệt mà chung quanh là chợ búa. Người ta ăn, người ta ở, người ta tắm giặt, người ta nấu nướng ở một chỗ luôn.

Tôi thấy hầu hết đều là những nơi ăn ở rất chật hẹp và thiếu vệ sinh. Và tôi đã chứng kiến một cái cảnh là ở trong đó có năm sáu chục người công nhân phụ nữ Việt Nam rất trẻ ở trong một cái tầng trệt mà chung quanh là chợ búa. Người ta ăn, người ta ở, người ta tắm giặt, người ta nấu nướng ở một chỗ luôn.

Linh mục Nguyễn Văn Hùng

Và tại vì ở bên Mã Lai cái vấn đề an ninh an toàn cho chị em phụ nữ không có thành thử ra người ta phải đóng cửa bịt bùng cho nên khi vô thăm họ, ngồi xuống để nói chuyện với họ thì người mình toàn là mồ hôi và nó rất là hôi hám, tại vì nó không có chỗ thoát không khí.

Và tôi vừa mới nói đến cái vấn đề về an ninh, an toàn cho chị em thì phụ nữ Việt Nam ở Mã Lai khi đi làm việc và khi đi về nhà thì họ rất là sợ trong vấn đề an toàn, tại vì ở bên đó cái vấn đề an toàn rất là thấp, vì vậy ai cũng sợ hãi cái việc đó." 

Nô lệ của thời đại thế kỷ 21

Hẳn quí vị còn nhớ một dạo  chính phủ Malaysia tuyên bố không hài lòng trước sự kiện công nhân Việt Nam qua xứ họ làm việc mà bỏ trốn ra ngoài qua nhiều.  Đáp lại,  chính phủ Việt Nam loan báo sẽ có biện pháp kỷ luật nghiêm khắc đối với lao động bỏ ngang hợp đồng để ra ngoài kiếm việc khác. Tình trạng  lao động bỏ ra ngoài  dẫn tới những hậu quả đáng buồn như sức khỏe sa sút, hàng trăm cái chết gọi là đột tử .  Linh mục Nguyễn Văn Hùng giải thích:

"Anh chị em trốn ra ngoài, họ sống quây quần với nhau, và người địa phương họ biết được những người này là những người trông ra ngoài cho nên họ cũng lợi dụng những người ở bất hợp pháp như vậy. Đối với những người chạy ra ngoài, trốn ra ngoài để đi làm và kiếm tiền như vậy thì đời sống về sức khoẻ nó sa sút rất là nhiều.

Tôi có hỏi anh chị em đó là trong trường hợp mà bệnh tật thì như thế nào thì họ chỉ nói là trong trường hợp bệnh tật thì họ chỉ nhờ cậy vào gia đình ở Việt Nam gửi thuốc qua cho họ để họ uống thôi.

Cho nên có những trường hợp mà chết, mà đột tử, người Việt Nam mình ở Mã Lai bị chết rất nhiều đó, tôi hỏi anh chị em công nhân thì họ nói rất là nhiều người chết đột tử là bởi vì họ trốn ra ngoài họ lao lực quá sức và khi họ bệnh tật thì họ không có chỗ để đi khám bệnh, cho nên một số người đột tử là những người ở trong thành phần trốn ra ngoài."

Từ những điểm vừa trình bày, Linh mục Nguyễn Văn Hùng  so sánh tình trạng công nhân Việt lao động ở Đài Loan và tình trạng công nhân Việt lao động tại Malaysia như sau:

"Người công nhân lao động Việt Nam ở Mã Lai họ đi qua Mã Lai làm việc với số tiền môi giới ít hơn là công nhân lao động Việt Nam tại Đài Loan. Tuy nhiên, nếu tính ra cái tiền mà người ta thu lại được do đi làm, nếu mà tính ra tháng năm để trả thì nó cũng tương đương với người lao động Việt Nam qua bên Đài Loan này làm.

Cái thứ hai đó là công nhân Việt Nam qua bên Mã Lai làm việc đã không được sự quan tâm của chính phủ Việt Nam vì vậy cho nên họ trở thành nô lệ của thời đại thế kỷ 21 là bị bóc lột sức lao động, bóc lột tiền lương của họ. Riêng tại công ty Flextronics mà hồi nãy tôi quên  nói với chị, là hiện nay có 2 công nhân Việt Nam đang bị bệnh nặng. 

Họ đã xin công ty môi giới xin chủ cho họ đựoc chữa trị bệnh, nhưng mà công ty môi giới đã bắt họ phải trả 2.500 ringgit.

Nếu mà họ không có tiền là cứ giam ở công ty, không cho họ về mà cũng chẳng cho họ đi làm. Đây là cái tình trạng khá phổ biến là khi cái sinh mạng của người công nhân giao cho công ty môi giới và những công ty môi giới họ chỉ biết lợi nhuận, họ không có giải quyết theo cái nhu cầu an toàn hay là cái nhụ cầu cần thiết của người công nhân Việt Nam."

Nếu mà họ không có tiền là cứ giam ở công ty, không cho họ về mà cũng chẳng cho họ đi làm.
Linh mục Nguyễn Văn Hùng

Chị Duẩn, một  trong hai nữ công nhân bị ngã bệnh khi đang làm việc cho  công ty Flextronics mà Linh mục Nguyễn Văn Hùng nhắc đến, kể lại với Thanh Trúc:

"Em ốm hơn 6 tháng nay rồi mà. Em đi khám thì môi giới họ bảo là em không có bệnh, nhưng mà em mệt, em tức ngực, em khó thở lắm. Em nghỉ đến hôm nay là được một tháng 2 ngày rồi ạ.

Hôm nọ công ty tính dùm em đựoc  một năm thì em xin "boss" (chủ) về, "boss" bảo hễ mà có hai nghìn ba thì họ cho em về, nhưng mà em thì em không dùng tiền, hôm nọ em cũng để được hơn nghìn, nhưng mà em ốm em ăn đi rôì, em chỉ cần tiền vé máy bay thôi mà bảo em nộp phạt, vậy thì em không có tiền.

 Không làm, nghỉ thì không có lương cơ bản, nợ. Em thì em rất mệt, em mong làm sao mà "boss" giải quyết cho em nhanh chóng để em về em còn đi điều trị chứ. Có hôm em ốm em đi vào clinic mấy tháng thì họ bảo tim có vấn đề. Em thì ở nhà em không có bệnh gì, sang đây em làm đựoc hơn 3 tháng, sang tháng thứ tư thì em ốm."

Thanh Trúc gọi cho chị công nhân thứ hai, chị từ chối trả lời, nói rằng chị rất mệt và rất sợ nói điều chi  có thể hại tới bản  thân chị lúc này.

Nổ lực của Việt Nam

Đó là tình cảnh đáng quan tâm về  nữ công nhân Việt Nam ở Malaysia. Trong một cuộc phỏng  vấn dành cho Đài Á Châu Tự Do mới đây, đặc sứ chuyên trách phòng chống buôn người của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Mark Lagon, khen ngợi nổ lực phòng chống của Việt Nam, nhưng nói thêm:

"Việt Nam đã có hình ảnh chống tích cực. Việt Nam đã nỗ lực phòng chống tích cực. Bên cạnh đó lại dấy lên sự quan tâm về mặt công nhân Việt Nam ở nước ngoài bị cưỡng bách lao động và bị bóc lột. hiều trường hợp gần đây như là công nhân Việt sang Malaysia tổ chức đình công cả ngàn người để phản đối chủ vi phạm hợp đồng. Nhiều dấu hiệu cho thấy là những người tuyển mộ công nhân vì thấy rõ những nhu cầu cấp thiết của người muốn đi là tìm kiếm một đời sống tốt đẹp hơn, cho nên họ đã tận dụng điểm ấy như một sự lường gạt vào cái bẫy của nạn buôn người."

Mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi đến đây  tạm ngưng. Thanh Trúc sẽ trở lại cùng quí vị tối Thứ  Năm tuần tới.


 
Radio Free Asia
2025 M Street NW, Suite 300
Washington DC 20036, USA
202-530-4900
vietweb@rfa.org