Ưu tiên chống lạm phát là mục tiêu số 1 của chính phủ, nhưng tình hình ở Việt Nam vẫn đầy bất trắc và các chuyên gia bắt đầu cảnh báo sự đình trệ kinh tế sau lạm phát. Đây là đề tài đọc báo trên mạng tuần này.
Tuy chính phủ Việt Nam gồng mình trợ giá nhiên liệu nhập khẩu để ổn định giá xăng dầu trong nước, nhưng thị trường Việt Nam vẫn bị ảnh hưởng bởi giá nhiên liệu thế giới.
Đa
số các hội thảo viên tham gia cuộc hội thảo về quản lý thị trường và giá cả
nhằm kiềm chế lạm phát, đều tỏ ra lo ngại khó kiểm soát lạm phát dưới 30% như
mục tiêu đề ra. Cuộc hội thảo do Viện Nghiên Cứu Khoa Học Thị Trường Giá Cả, Bộ
Tài Chánh tổ chức vào ngày 15/7 tại Hà Nội.
Ghi nhận từ cuộc hội thảo VN Express tổng hợp ý kiến chuyên gia nhận định rằng, tình hình ở Việt Nam lạm phát vẫn tăng cao, giá cả nhiều mặt hàng vẫn biến động và thị trường còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn và khó lường.
Vẫn theo tờ báo, giá xăng dầu sắt thép, lương thực thế giới đang diễn biến bất thường và có nguy cơ tăng cao. Do vậy tất cả những mục tiêu kiểm soát lạm phát ở con số 22%, 25% hay 30% đều có thể bị phá vỡ bất kể lúc nào, trong hoàn cảnh mà VN Express mô tả là, nếu nền kinh tế không được bắt đúng bệnh và kê đơn đúng thuốc.
Trả lời chúng tôi, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh chuyên gia nghiên cứu kinh tế ở Hà Nội nhận định:
Chỉ số lạm phát 6 tháng đầu năm đã tăng lên 18%, cho nên tỷ lệ lạm phát cả năm có thể đạt hoặc vượt 30% theo tôi là điều rất hiện thực.
Sự tác động tới đời sống người nghèo, tác động tới tất cả mọi người chứ không chỉ người nghèo đã rất rõ ràng. Bởi vì chỉ số giá lương thực thực phẩm đã tăng lên rất cao, trong 6 tháng đầu năm chỉ số giá lương thực tăng tới 55%, chỉ số giá thực phẩm cũng tăng đến 29%.
Sự tác động tới đời sống người nghèo, tác động tới tất cả mọi người chứ không chỉ người nghèo đã rất rõ ràng. Bởi vì chỉ số giá lương thực thực phẩm đã tăng lên rất cao, trong 6 tháng đầu năm chỉ số giá lương thực tăng tới 55%, chỉ số giá thực phẩm cũng tăng đến 29%.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh
Trong cuộc hội thảo, theo VN Express, chuyên gia phân tích dự báo giá cả Phạm Minh Thuỵ cho rằng, nếu kiềm chế lạm phát tốt thì bình quân 6 tháng cuối năm, mỗi tháng mức tăng giá sẽ từ 1,5% tới 1,7%. Như vậy theo lời ông Thuỵ tỷ lệ tăng giá tháng 12/2008 so với tháng 12/2007 sẽ vào khoảng 130%.
Mức
so sánh tỷ lệ theo cùng thời gian năm trước, lúc này ít được các chuyên gia của
chính phủ sử dụng vì nó đưa tới những con số gây sốc, thí dụ như dự báo lạm
phát 130% vừa rồi.
Thay vào đó các giới chức thường tính tỷ lệ tăng giá so với
cuối năm 2007, thí dụ mức tăng giá 6 tháng đầu năm 2008 với cuối tháng 12/2007 là
hơn 18%, còn so sánh tháng 6/2008 với tháng 6/2007 chỉ số tăng giá tiêu dùng sẽ
lên tới 26, 8%.
Vẫn theo VN Express ông Vũ Đình Ánh, phó viện trưởng Viện Nghiên Cứu Khoa Học Thị Trường Giá Cả tỏ ra không lạc quan về mục tiêu kiểm soát lạm phát ở ngưỡng kỳ vọng dưới 30%. Ông Ánh quan ngại giá nhiên liệu đầu vào tăng cao, thậm chí ngưỡng 300 USD một thùng dầu đã được dự báo.
Giá dầu thế giới đã lên tới gần 150 đô la/ thùng nhưng tuần này đã giảm dưới ngưỡng 140 USD. Theo ông Vũ Đình Ánh, khả năng kiểm soát lạm phát vẫn còn nhiều khó khăn, chừng nào còn hiện tượng đầu cơ, buôn lậu và bất cập trong phân phối.
Trả lời chúng tôi chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh ở Hà Nội, xác định rằng, tuy chính phủ Việt Nam gồng mình trợ giá nhiên liệu nhập khẩu để ổn định giá xăng dầu trong nước, nhưng thị trường Việt Nam vẫn bị ảnh hưởng bởi giá nhiên liệu thế giới. Ông nói:
Giá xăng dầu thế giới tăng dẫn đến việc các mặt hàng khác trên thế giới cũng tăng. Việt Nam vẫn phải nhập phân bón thuốc sâu và các loại vật tư khác, vì vậy tôi nghĩ rằng tình hình đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đối với Việt Nam.
Theo VN Express, ông Nguyễn Đức Thắng giới chức Tổng Cục Thống Kê nhận định, tốc độ tăng giá đã chững lại, nhưng hầu hết những mặt hàng phục vụ sản xuất và đời sống đều đứng ở mức cao, nền kinh tế Việt Nam đã có dấu hiệu tích cực song chưa thể ổn định.
Ông Thắng cho rằng cần tiếp tục duy trì chính sách thắt chặt tiền tệ, kiểm soát hoạt động thương mại, sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty nói chung. Vẫn theo ông Thắng, phải áp dụng đồng bộ các giải pháp thì mới có thể kiểm soát lạm phát có hiệu quả.
Trả lời chúng tôi, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nhận định:
Chính phủ hiện nay đã có biện pháp hạn chế tín dụng, kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng và yêu cầu giảm đầu tư công, cũng như giảm đầu tư của các tập đoàn kinh tế Nhà nước. Tôi nghĩ rằng các biện pháp đó sẽ dần dần có hiệu lực hơn. Tuy vậy về lâu về dài các biện pháp cơ bản là phải tái cấu trúc các doanh nghiệp, phải tái cấu trúc cơ cấu các sản phẩm và thực hiện các biện pháp khoa học công nghệ để giảm chi phí năng lượng và nâng cao hiệu quả.
Chính phủ hiện nay đã có biện pháp hạn chế tín dụng, kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng và yêu cầu giảm đầu tư công, cũng như giảm đầu tư của các tập đoàn kinh tế Nhà nước. Tôi nghĩ rằng các biện pháp đó sẽ dần dần có hiệu lực hơn. Tuy vậy về lâu về dài các biện pháp cơ bản là phải tái cấu trúc các doanh nghiệp, phải tái cấu trúc cơ cấu các sản phẩm và thực hiện các biện pháp khoa học công nghệ để giảm chi phí năng lượng và nâng cao hiệu quả.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh
Các
biện pháp đó cần phải tiến hành trong nhiều năm, tôi nghĩ rằng Việt Nam sẽ cần
phải có những nỗ lực mạnh mẽ hơn, để đối mặt với tình hình giá dầu cao và tình
hình phức tạp của kinh tế hiện nay.
Cũng ghi nhận từ Hội Thảo Hà Nội 15/7, nhưng VietnamNet chú trọng tới vấn đề khác, đó là câu chuyện hậu lạm phát mà tờ báo dùng làm tựa đề: ‘Đừng Để Sau Lạm Phát Là Đình Trệ Kinh Tế’.
Bà
Nguyễn Thị Mùi, Phó Giám Đốc Học Viện Tài Chính đánh giá cao kết quả ban đầu
của các biện pháp hạn chế tăng trưởng tín dụng nóng.
Nhưng bà cho rằng, cần điều hành lãi suất theo hướng ổn định và giảm dần khi lạm phát được kềm chế. Tăng lãi suất là giảm cung tiền, nhưng cung tiền đã giảm đến mức thấp mà lãi suất vẫn tiếp tục tăng, thì tăng lãi suất lúc này sẽ có tác dụng ngược lại.
Nhận định của bà Phó Viện Trưởng Học Viện Tài Chính được nhiều người chú ý. VietnamNet trích lời bà Mùi, lãi suất tăng cao khiến chi phí đầu vào của các doanh nghiệp tăng theo, đẩy gía bán sản phẩm tăng lên, làm ảnh hưởng đến số đông người có thu nhập thấp nhưng không hạn chế tiêu dùng của người có thu nhập cao.
Lãi
suất tăng cao, điều kiện vay khó khăn khiến cho doanh nghiệp không tiếp cận
được vốn ngân hàng để sản xuất mà đây chính là nguồn cung hàng hoá lớn cho xã
hội.
Vẫn theo bà Nguyễn Thị Mùi, lãi suất tăng cao làm giảm đầu tư tư nhân, tăng chi phí vay mượn, làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tình trạng này kéo dài sẽ làm cho nền kinh tế xấu hơn, vĩ mô tiếp tục bất ổn đời sống người lao động bị ảnh hưởng.
Bà
Mùi cho rằng, lãi suất tăng cao và cuộc đua lãi súât đã không còn nhiều tác
động trong việc tiếp tục tăng nguồn huy động vốn mà chủ yếu là cạnh tranh để giữ
khách hàng.
Như vậy, khi lãi suất tăng không còn hiệu quả việc điều hành ổn định và giảm dần cần được đặt ra đối với nền kinh tế Việt Nam trong 6 tháng cuối năm.
|
|
Phần âm thanh |
|
|
Tải xuống âm thanh |
|
|
Email bản tin này |
|
|
Đăng ký bản tin |
|
|
In bản tin này |
|
|
Chia sẻ bài này |
Tín dụng tăng vượt quá mức kiểm soát
Vào ngày họp thứ 3 Quốc hội thảo luận về kinh tế
Lạm phát tăng 2,42% trong tháng 9
Việt Nam nhập siêu 5,1 tỷ đô la trong 8 tháng
Việt Nam cần thêm gói kích cầu thứ 2 khỏang 1 tỷ đôla?
Dân phải tự bảo vệ chính mình?
GDP 2009 của VN có khả năng đạt 5%
Ý kiến của Bạn
Bạn có thể đưa ý kiến của mình vào khung phía dưới. Ý kiến của Bạn sẽ được RFA xem xét trước khi đưa lên trang web, do đó cần có thời gian. Vui lòng sớm quay lại để xem ý kiến của Bạn đã được đưa lên chưa.
Xem tất cả ý kiến.