Ô nhiễm và sụt giảm nguồn nước ở Việt Nam(phần 2)

2009-06-24

Lần trước, Việt Hà đã trình bày với quý vị về tình hình ô nhiễm nguồn nước mặt tại Việt Nam, mà chủ yếu là tại lưu vực các con sông lớn. Kỳ này, Việt Hà xin được gửi tới quý vị những tìm hiểu về tình hình sụt giảm nguồn nước mặt và nước nhiễm mặn ở Việt Nam.

AFP photo

Việc khai thác nguồn nước đã làm suy thoái nghiêm trọng về số lượng và chất lượng tài nguyên nước trên 7 đến 8 lưu vực sông lớn. AFP photo

Việc khai thác quá mức của con người và biến đổi khí hậu đang làm cho nguồn tài nguyên nước mặt của Việt Nam  bị suy  giảm về số lượng.

Khai thác nước vượt quá mức cho phép

Theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế về tài nguyên nước, ngưỡng khai thác được phép tại các quốc gia chỉ nên giới hạn trong phạm vi 30% lượng dòng chảy. Trong khi đó, theo Bộ Tài nguyên Môi trường, thì hầu hết các tỉnh miền Trung, và Tây nguyên đã và đang khai thác trên 50% lượng dòng chảy về mùa khô khiến các dòng sông càng cạn kiệt.

Ngưỡng khai thác được phép tại các quốc gia chỉ nên giới hạn trong phạm vi 30% lượng dòng chảy. Trong khi đó, theo Bộ Tài nguyên Môi trường, thì hầu hết các tỉnh miền Trung, và Tây nguyên đã và đang khai thác trên 50% lượng dòng chảy về mùa khô khiến các dòng sông càng cạn kiệt.

Riêng tại tỉnh Ninh thuận, hiện các dòng chảy đã bị khai thác tới 70 -80%. Việc khai thác nguồn nước đã làm suy thoái nghiêm trọng về số lượng và chất lượng tài nguyên nước trên 7 đến 8 lưu vực sông lớn của Việt Nam như sông Hồng, Thái Bình, và sông Đồng Nai.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là sự gia tăng nhanh về dân số làm cho việc khai thác tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan đến nước như đất, rừng vượt quá mức cho phép khiến tài nguyên nước bị suy kiệt.

Theo một thống kê gần đây của  Bộ Tài nguyên và môi trường, thì các lưu vực sông lớn ở Việt Nam như sông Cửu Long ở Nam bộ, lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình đều phụ thuộc phần lớn nguồn nước từ quốc tế.

Cụ thể sông Cửu Long phụ thuộc 95% nguồn nước quốc tế, trong khi lại sử dụng nhiều nước nhất, tỷ lệ trữ nhỏ nhất, mật độ dân số cao nhất và có số hộ nghèo cao thứ hai trong cả nước.

Lưu vực sông Hồng – Thái Bình phụ thuộc đến 40% nước sông từ Trung quốc chảy về, trong khi lượng nước bình quân đầu người thấp, mật độ dân số và số hộ nghèo cũng cao.

Sông Cửu Long phụ thuộc 95% nguồn nước quốc tế, trong khi lại sử dụng nhiều nước nhất, tỷ lệ trữ nhỏ nhất, mật độ dân số cao nhất và có số hộ nghèo cao thứ hai trong cả nước

Tiến Sĩ Tăng Đức Thắng thuộc viện khoa học thuỷ lợi miền Nam cho biết về tình trạng và nguyên nhân của sự suy giảm nguồn nước mặt như sau:

Tăng Đức Thắng : các dòng sông cạn kiệt thì lý do thế này, đặc biệt là ở miền Trung.  Ở miền Bắc một số nơi cũng vậy, nhưng miền Trung thì rõ hơn, ở các lòng sông nó cạn kiệt, người ta lấy nước ở các hồ chứa tưới cho các hệ thống tưới, nên người ta  xả nước xuống bản thân cái lòng sông đó thành ra lòng sông nhiều nơi nó khô đi.

Ví dụ như lòng sông vào mùa khô lượng nước là 10m3/s chẳng hạn, do một số hồ chứa không có thuỷ điện thì người ta lấy nước đó và do vậy mùa khô nó chỉ còn 1 đến 2m3/s, còn lại nước nó tích trong mùa lũ cộng với dòng chảy thiệt thì người ta dẫn luôn vào qua các cống lấy nước riêng ra, người ta dẫn đi một đường khác đưa vào tưới.

Đáng lẽ ra người ta phải xả xuống lòng sông thì người ta dẫn nước đi nơi khác để người ta tưới cho nên đúng là các lòng sông ở miền Trung là có vấn đề.

Đáng lẽ ra người ta phải xả xuống lòng sông thì người ta dẫn nước đi nơi khác để người ta tưới cho nên đúng là các lòng sông ở miền Trung là có vấn đề.

Theo ông Thắng thì hệ thống các hồ thuỷ lợi tại miền Trung mặc dù khiến vùng hạ lưu sau hồ bị cạn kiệt hơn vào mùa khô nhưng đổi lại, thảm thực vật quanh hồ lại xanh tốt hơn, và vì thế người dân có thể trồng được lúa. Tuy nhiên ông cũng thừa nhận là môi trường đằng sau lòng hồ lại bị ảnh hưởng. Ông nói:

ở đây có câu chuyện là môi trường sinh thái ở ngay đằng sau lòng hồ có vấn đề, nó xấu hơn so với điều kiện tự nhiên ngày xưa. về lâu về dài nó sẽ làm mất cả một hệ sinh thái điển hình của khu vực đó ví dụ như là một số loài cá, loài cây nó có thể mất đi

Suy thoái do biến đổi khí hậu

Ngoài ra, biến đổi khí hậu cũng khiến nguồn nước mặt các con sông bị giảm đi, và gây nên hiện tượng nhiễm mặn ở các dòng sông. Tiến sĩ  Ngô Đình Tuấn, thuộc trường đại học Thuỷ lợi, giải thích như sau:

Ngô Đình Tuấn : suy thoái đấy là do tác động của con người. nhưng còn suy thoái nữa là do biến đổi khí hậu. nước dâng lên, nước mặn đi sâu vào trong sông, như vậy là ta không còn dùng nó như là nước ngọt nữa mà là nước lợ hay nước mặn thôi.

Suy thoái đấy là do tác động của con người. nhưng còn suy thoái nữa là do biến đổi khí hậu. nước dâng lên, nước mặn đi sâu vào trong sông, như vậy là ta không còn dùng nó như là nước ngọt nữa mà là nước lợ hay nước mặn thôi.

Đó là suy thoái. ví dụ là, có 2 mặt, thứ nhất là do nhiệt độ tăng lên, trong vòng 10 năm một thập kỷ như thế, là khoảng 0,6 độ C, làm bốc hơi tăng lên, làm dòng chảy giảm xuống, vì dòng chảy là hiệu quả giữa mưa và bốc hơi. giả dụ mưa không thay đổi, bốc hơi tăng lên, thì hiệu số giữa mưa và bốc hơi là dòng chảy giảm xuống, tài nguyên nước mặt giảm đi. thứ hai nữa là khi nhiệt đô tăng lên thì nhu cầu nước cho cây trồng vật nuôi đều tăng lên, kể cả sinh hoạt của con người yêu cầu cũng tăng lên.

Giả dụ mưa không thay đổi, bốc hơi tăng lên, thì hiệu số giữa mưa và bốc hơi là dòng chảy giảm xuống, tài nguyên nước mặt giảm đi. thứ hai nữa là khi nhiệt đô tăng lên thì nhu cầu nước cho cây trồng vật nuôi đều tăng lên, kể cả sinh hoạt của con người yêu cầu cũng tăng lên.

Và nhu cầu càng tăng thì làm cho tài nguyên nước mặt giảm xuống. đó là mặt thứ nhất nói riêng về nhiệt độ tăng lên, mặt thứ hai cũng về biến đổi khí hậu là nước biển dâng cao lên, nó đưa nước mặn xâm nhập sâu vào trong lòng sông. Làm cho lượng nước ngọt giảm đi. nước lợ, nước mặn tăng lên.

Theo các chuyên gia, để phát triển bền vững nguồn tài nguyên nước, giảm thiểu khó khăn về suy thoái nguồn tài nguyên này trên các lưu vực sông, Việt Nam cần coi trọng các biện pháp như xây dựng các hồ chứa thượng lưu để điều tiết nguồn nước và vận hành theo quy trình hợp lý.

Đồng thời xây dựng các công trình khai thác lấy nước mặt, nước dưới đất ở trung và hạ lưu các lưu vực sông nhằm đáp ứng các nhu cầu sử dụng nước và duy trì dòng chảy môi trường.

Trên đây là tình hình sụt giảm nguồn nước mặt tại Việt Nam.

Kỳ tới Việt Hà xin được gửi tới quý vị tường trình về tình trạng suy thoái nguồn nước ngầm ở Việt nam.

Ý kiến của Bạn

Bạn có thể đưa ý kiến của mình vào khung phía dưới. Ý kiến của Bạn sẽ được RFA xem xét trước khi đưa lên trang web, do đó cần có thời gian. Vui lòng sớm quay lại để xem ý kiến của Bạn đã được đưa lên chưa.





 
Radio Free Asia
2025 M Street NW, Suite 300
Washington DC 20036, USA
202-530-4900
vietweb@rfa.org