Phúc trình 2010-2011 được Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc FAO công bố hôm thứ Năm vừa qua tại Câu Lạc Bộ Báo Chí Nước Ngoài ở Bangkok, Thái Lan.
Với chủ đề Phụ Nữ Trong Nông Nghiệp: Thu Hẹp Khoảng Cách Giới Cho Sự Phát Triển, phúc trình của FAO cho thấy tại các quốc gia Châu Á Thái Bình Dương số người sống ở nông thôn luôn cao hơn ở thành thị, có nghĩa là gần 70 đến 80% dân số các nước sinh sống ở vùng quê, và đa số trực tiếp hay gián tiếp dính líu đến nông nghiệp.
Quan trọng nhưng thiệt thòi
Điều đáng lưu ý, được Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc nhấn mạnh, phụ nữ là thành phần đóng góp quan trọng và đáng kể vào nền kinh tế cũng như an toàn thực phẩm, nhưng họ cũng là thành phần thiệt thòi và yếu thế hơn nam giới về mặt sở hữu đất canh tác cũng như những phương tiện sản xuất, chưa được tiếp cận đúng mức với những nguồn tài nguyên cần thiết để nâng cao năng lực sản xuất của mình. Đó là khoảng cách hoặc sự mất cân bằng giới trong nông nghiệp, FAO kết luận.
Những nguồn tài nguyên cần thiết được kể ra là đất canh tác, phân bón, thuốc trừ sâu, nguồn nước tưới, cơ giới tức máy cày, máy tưới, máy gặt, rồi thì những thông tin về sự cải tiến, kỹ thuật hay phương pháp gieo trồng ứng dụng khoa học vào nông nghiệp, nguồn hỗ trợ tài chính cho sản xuất … Tất cả những điều đó phụ nữ nông thôn không được biết đến nhiều, không được phục vụ nhiều như nam giới.

Đó là lời ông Hiroyuki Konuma, phó tổng giám đốc Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc, cũng là người đại diện khu vực của tổ chức tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương, nói rằng tại một quốc gia nông nghiệp như Việt Nam, số phụ nữ nông thôn nắm phần chủ động về tài sản tức được vay tiền để sản xuất trong nông nghiệp chỉ chiếm 24% so với 33% phía nam giới.
Mặt khác, những phương tiện hỗ trợ để sản xuất và phát triển đối với phụ nữ vùng nông thôn Việt Nam chỉ vào khoảng 7.5% so với 33% phía nam giới.
Tại nhiều quốc gia khác trong khu vực mà Kampuchia là thí dụ điển hình, số liệu trong phúc trình của FAO cho thấy rõ nét nhất về sự mất cân bằng giới trong lãnh vực nông nghiệp là đàn bà Kampuchia chỉ sở hữu 18% đất canh tác, thua gấp năm lần so với nam giới luôn luôn có nhiều đất canh tác hơn và diện tích đất canh tác của họ cũng lớn hơn của phụ nữ .
Theo ông Hiroyuki Konuma, phúc trình 2010-2011 của Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc, khẳng định vai trò của nữ giới trong nông nghiệp bên cạnh khoảng cách giới tính trong lãnh vực này, được coi là một tín hiệu mới, một bước đột phá mà cũng là một cơ hộị để thay đổi nếp nghĩ về vai trò và sự đóng góp tích của phụ nữ trong nông nghiệp và trong sản xuất.
Trên một trăm triệu người trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương sẽ thoát ra khỏi cảnh nghèo khó nếu phụ nữ nông thôn cũng được sở hữu được tiếp cận được chủ động như nam giới trong lãnh vực nông nghiệp.
Vai trò phụ nữ VN trong nông nghiệp cao hơn nhiều nước

Bảng thống kê của FAO phần đề cập đến số lượng phụ nữ nắm quyền chủ động trong gia đình về mặt nông nghiệp so với đàn ông, cho thấy con số phụ nữ Việt Nam xem ra cao nhất so với các quốc gia nông nghiệp đang phát triển ở Châu Á như Bangladesh, Indonesia, Nepal, Tajikistan.
Không những thế, Việt Nam còn vượt qua Ecuador, Guatemala, Nicaragua, Panama, Ghana, Madagascar, Malawi, Nigeria về vấn đề chủ động và quyết định ngang hàng với chồng trong những gia đình làm nghề nông.
Được hỏi về số liệu này, chuyên gia kinh tế của Tổ Chức Lương Nông Thế Giới, bà Terry Raney, cũng là một trong những người soạn thảo phúc trình về khoảng cách giới trong nông nghiệp, nhận định:
“Quá trình nghiên cứu và thẩm định dựa trên những tài liệu đáng tin cậy cho thấy phụ nữ và nam giới ở Việt Nam tiếp cận được một cách tích cực với những điều gọi là tài nguyên và phương tiện cụ thể trong nông nghiệp hơn bất cứ quốc gia nào được nêu ra ở đây. Tuy nhiên không thể chối cãi là ở Việt Nam phụ nữ trong nông nghiệp vẫn chịu thiệt thòi hơn so với đàn ông về mọi mặt.
Quá trình nghiên cứu và thẩm định dựa trên những tài liệu đáng tin cậy cho thấy phụ nữ và nam giới ở Việt Nam tiếp cận được một cách tích cực với những điều gọi là tài nguyên và phương tiện cụ thể trong nông nghiệp hơn bất cứ quốc gia nào được nêu ra ở đây.
Bà Terry Raney
Phụ nữ Việt Nam sở hữu đất đai ít hơn nam giới, họ không được sử dụng máy móc cơ giới trong nông nghiệp nhiều như đàn ông, họ không được biết nhiều về các loại phân bón, không biết nhiều về lúa giống,không được quyết dịnh làm cách nào để nâng sản lượng, chính vì thế họ sản xuất kém hơn đàn ông là vậy.
Bà quả quyết là dù không trầm trọng nhưng nếu khoảng cách giới tính trong nông nghiệp đó ở Việt Nam được san bằng thì phụ nữ có khả năng sản xuất không kém nam giới, góp phần trực tiếp và tích cực trước hết vào sự an toàn lương thực cho chính người dân Việt Nam của họ trước.”
Những điều này không chỉ là kêu gọi suông hay nói suông mà được, không thể ngồi chờ ngày một ngày hai chính sách và luật lệ sẽ thay đổi sẽ tạo thuận lợi hơn cho phụ nữ, bà Terry Raney chia sẻ tiếp.
Theo bà người phụ nữ phải nắm phần chủ động. Có những nhóm phụ nữ làm nông, có những nông hội dành cho phụ nữ, qua đó chính người đàn bà khẳng định vai trò, khả năng và chỗ đứng thực tế của mình trên đất đai, trên ruộng vườn mà chính họ đổ mồ hôi một nắng hai sương tạo ra miếng ăn cũng như của cải cho gia đình và đất nước của họ.
