Trong bài thứ nhì, tìm hiểu về tính độc lập và vai trò của Quốc Hội VN, biên tập viên Thiện Giao sẽ giới thiệu một vài ý kiến của giới luật gia trong nước để qua đó thấy rằng tiến trình chất vấn tại Quốc Hội Việt Nam chưa đạt đến mức gai góc cần thiết để Quốc Hội đảm nhiệm vai trò giám sát các hoạt động nhà nước như đã qui định trong Hiến Pháp.
Tưởng cũng nên nhắc lại, trong phần thứ nhất, chúng tôi đã trình bày mô hình “cơ cấu” và “hiệp thương” để bầu chọn đại biểu Quốc Hội. Cơ chế này một phần nào chi phối tính độc lập cần có của cơ quan lập pháp tối cao của một quốc gia.
Nhiều câu hỏi không được trả lời
Liên quan đến một câu hỏi về tình trạng biến động giá đôla trong những ngày vừa qua, theo tường thuật của VNExpress ngày 31 tháng Năm, câu hỏi dưới dạng văn bản của đại biểu Quốc Hội Nguyễn Lân Dũng đã không nhận được câu trả lời từ người có trách nhiệm.
Cũng theo bài tường thuật này, khi Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, ông Nguyễn Văn Giàu, nhận định là diễn biến bất ổn của giá đôla chỉ là ngắn hạn, và người dân vẫn rất tin tưởng vào hệ thống ngân hàng, thì đại biểu Nguyễn Lân Dũng, một trong những người đặt câu hỏi chất vấn, “chỉ mỉm cười.”
Khi đặt câu hỏi với đại biểu Nguyễn Lân Dũng, liên quan đến chi tiết “mỉm cười,” câu trả lời của ông khiến chúng tôi bất ngờ. Ông nói:
Chất vấn là giúp xác định trách nhiệm chính trị. Thông qua chất vấn, tôi thể hiện tôi còn tin anh nữa không, cử tri còn tin anh nữa không, chứ không dẫn đến hệ quả chuyện ông làm đúng hay không? Có dẫn đến hệ quả pháp lý hay không?
TS Phạm Duy Nghĩa
“Chắc là nhầm. Tôi không hỏi câu đó. Tôi không nắm vấn đề đó nên tôi không hỏi. Ngoài ra, có những vấn đề được trả lời bằng thơ riêng vì sự tế nhị của vấn đề.”
Nếu tường thuật của VNExpress chính xác, thì không chỉ chất vấn của đại biểu Nguyễn Lân Dũng không nhận được câu trả lời. Một số đại biểu khác cũng lâm vào tình trạng tương tự.
Chẳng hạn đại biểu Đặng Như Lợi, khi đặt câu hỏi về tình trạng lời lỗ của Tổng Công Ty SCIC, đã được Bộ Trưởng Tài Chánh Vũ Văn Ninh nói rằng “Việc SCIC có lỗ vốn trong vụ mua cổ phiếu hay không, theo tôi cần phải tính toán trong một giai đoạn chứ không thể nói ngay được.” Bộ Trưởng Vũ Văn Ninh cho biết đây là bí mật không thể tiết lộ!
Về ý nghĩa của hành động chất vấn tại Quốc Hội, tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa nhận định:
“Chất vấn là giúp xác định trách nhiệm chính trị. Thông qua chất vấn, tôi thể hiện tôi còn tin anh nữa không, cử tri còn tin anh nữa không, chứ không dẫn đến hệ quả chuyện ông làm đúng hay không? Có dẫn đến hệ quả pháp lý hay không?
Chính vì vậy khi đại biểu thấy câu trả lời của ông Bộ Trưởng đủ để họ mỉm cười có nghĩa là họ đã bày tỏ một thái độ. Giá như ở nước khác, thì trách nhiệm chính trị này sẽ được đẩy lên bằng cách tôi sẽ thể hiện bằng lá phiếu, tôi không tin ông nữa, hoặc tôi mong muốn chính phủ thay một người khác. Nhưng ở Việt Nam thì điều này chưa được xác lập.
Tôi tin rằng đại biểu đã thể hiện. Sự mỉm cười sau câu trả lời của một thành viên chính phủ thì cũng là một cách thể hiện. Và ở Việt Nam thì cách thể hiện cũng chỉ ở mức đó thôi.”
Đại biểu Quốc hội bị coi thường?
Trong một bài báo đăng trên Tuổi Trẻ ngày 26 tháng Năm, nhan đề "Dân Muốn Hỏi Rất Nhiều," tác giả, sau khi thực hiện một số cuộc khảo sát, đã đưa ra nhận định về tính chất các buổi chất vấn, rằng: "…Những người chất vấn có dám và có biết cách đưa tiếng dân ra nghị trường hay không, kể cả những chuyện khó nói. Và ngược lại, những người được chất vấn có thấy rằng đây không phải là một cuộc truy hỏi, mà là một cơ hội để giải trình rõ trước Quốc hội và trước toàn thể quốc dân đồng bào."
Cũng trong một bài viết khác đăng trên tờ VietNamNet ngày 4 tháng Sáu, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện, nhận định rằng “Đáng tiếc là có không ít những cuộc trao đổi trong quá trình chất vấn được thực hiện theo công thức “hỏi một đàng - trả lời một nẻo,”” và “vẫn còn khá nhiều câu trả lời thể hiện tư tưởng đối phó cho qua chuyện nhiều hơn là hợp tác để làm rõ và giải tỏa những băn khoăn, trăn trở của cử tri.”
Một luật sư nhận định thực chất của các buổi chất vấn, thông qua chi tiết đại biểu Nguyễn Lân Dũng không nhận được câu trả lời và “chỉ mỉm cười” trước một số câu hỏi khác qua tường thuật từ báo chí trong nước:
Tuyển chọn ứng viên tham gia bầu cử đại biểu Quốc Hội là chuyện có tỉnh bản chất. Trước mỗi kỳ bầu cử, Trung Ương Đảng sẽ xác định một tỉnh sẽ được bầu bao nhiêu đại biểu Quốc Hội, và trong số những đại biểu được bầu, có bao nhiêu đại biểu sẽ do Trung Ương giới thiệu.
Một Luật sư trong nước<br/>
“Đó là sự xem thường đại biểu Quốc Hội. Nếu ông Dũng từ chối bị chất vấn, tức là làm một điều ngoài nghị trình, thì đúng ra các đại biểu Quốc Hội phải phản đối, yêu cầu được chất vấn. Họ đã không phải đối. Và ông Nguyễn Phú Trọng, Chủ Tịch Quốc Hội, cũng đã không làm gì cả.”
Đại biểu “chọn”, Đại biểu “cơ cấu”
Luật sư này cũng nhận định, rằng sự “xem thường” đại biểu Quốc Hội bắt nguồn một phần từ sự lệ thuộc của đại biểu Quốc Hội vào tiến trình bầu chọn đại biểu. Một thành phần đại biểu Quốc Hội được Trung Ương chọn và “cơ cấu” về địa phương.
Những đại biểu nào được chọn, được “cơ cấu” thì có nghĩa là họ không thể thất cử. Và sự có mặt của những đại biểu này tại Quốc Hội một phần nào thể hiện ý muốn của Đảng trong việc ai sẽ được, ai sẽ không được, đặt vào vị trí đại diện cử tri.
“Tuyển chọn ứng viên tham gia bầu cử đại biểu Quốc Hội là chuyện có tỉnh bản chất. Trước mỗi kỳ bầu cử, Trung Ương Đảng sẽ xác định một tỉnh sẽ được bầu bao nhiêu đại biểu Quốc Hội, và trong số những đại biểu được bầu, có bao nhiêu đại biểu sẽ do Trung Ương giới thiệu.
Ở đây, tính áp đặt rất rõ. Ví dụ trường hợp đại biểu Nguyễn Lân Dũng. Ông ta là người Hà Nội, và ông ta được trung ương giới thiệu về Dak Lak ứng cử. Những đại biểu mà trung ương giới thiệu thì địa phương không được đánh rớt.
Họ [Trung Ương] chỉ cần đưa những người mà họ thấy cần đưa vào Quốc Hội, chứ không phải là làm sao để những đại biểu ấy thực sự đại diện cho dân.”
Nhận định về công việc của một đại biểu Quốc Hội, nhất là trường hợp đại biểu sống tại một địa phương nhưng được cơ cấu vào một địa phương khác, đại biểu Nguyễn Lân Dũng nói về trường hợp riêng của ông: sống tại Hà Nội và đại diện cử tri Dak Lak:
“Mỗi năm tôi đi Dak Lak 4 lần, mỗi lần 1 tuần. Tại đây tôi sẽ tiếp xúc bà con ở các xã, làm việc với họ, trao đổi với họ. Tôi đã tiếp xúc rất tốt. Đi rất nhiều, các xã ở Dak Lak rất xa. Về việc đại diện tại Hà Nội thì tôi nghĩ là Hà Nội đông lắm. Ở các tỉnh khác, trung ương gởi về 2, 3 người. Và chúng ta nên đi về vùng sâu vùng xa để hiểu vấn đề của cao nguyên. Nhiều năm nay tôi ở Dak Lak. Trước đây tôi ở Bà Rịa – Vũng Tàu; sau đó Dak Nông. Bây giờ là Dak Lak.”
Về công việc của một đại biểu tại Quốc Hội, tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa cho rằng, định cư và đại diện cử tri tại hai địa phương khác nhau khiến các đại biểu vất vả hơn. Bên cạnh đó, việc thiếu phương tiện liên lạc cử tri cũng khiến các đại biểu bị giới hạn trong việc đưa ra sáng kiến cá nhân.
“Đại biểu sống Hà Nội nhưng có cử tri trong Nam thì vất vả. Một năm họ có 4 lần tiếp xúc cử tri của họ; trước kỳ họp một lần, sau kỳ họp một lần. Việt Nam Quốc Hội họp 2 kỳ, vậy thì các vị ấy đi 4 lượt. Rồi họ phải đi theo các đoàn giám sát và kiểm tra của Quốc Hội.
Nhìn chung, họ phải bỏ ra khoản 1 phần 3 quỹ thời gian làm việc cho công việc nghị sĩ. Ngoài ra, Việt Nam không coi nghị sĩ là chuyên nghiệp nên việc thù lao còn hạn chế. Việc không có kinh phí, tự đi lại, việc liên hệ cử tri chỉ thông qua các hoạt động tổ chức chứ sáng kiến cá nhân thì còn khó.”
Một trong những ví dụ điển hình của mô hình “cơ cấu” đại biểu Quốc Hội là trường hợp tiến sĩ Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường. Trong kỳ bầu cử Quốc Hội gần nhất, để chọn đại biểu cho Quốc Hội khoá 12, nhiều người Việt Nam, nhất là giới nông dân, biết và kính trọng những công việc tiến sĩ Võ đã làm lúc đương chức. Sau khi về hưu, nhiều người khuyến khích ông tự ứng cử vào Quốc Hội. Tiến sĩ Đặng Hùng Võ nộp đơn nhưng đã rút đơn chỉ ít hôm sau đó.
Vừa rồi là một vài ý kiến của giới luật gia trong nước nhận định rằng, tiến trình chất vấn tại Quốc Hội Việt Nam chưa đạt đến mức gai góc cần thiết để Quốc Hội đảm nhiệm vai trò giám sát các hoạt động nhà nước như đã qui định trong Hiến Pháp. Trong bài thứ ba, cũng là bài cuối cùng, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu cơ chế bãi nhiệm và quyền bãi miễn của Quốc Hội đối với các thành viên chính phủ. Câu hỏi được đặt ra là, liệu thực tế chính trị Việt Nam có cho Quốc Hội đủ quyền để thực hiện một tiến trình bãi miễn hay không?
