Giá gạo tăng cao, giới xuất khẩu được lợi

2008-04-23

Việt Nam hạn chế xuất khẩu gạo, nhưng 4 doanh nghiệp Nhà nước vẫn được phép dự thầu ở Manila vào hôm 17/4, chào bán khoảng một trăm ngàn tấn gạo 25% tấm cho Philippines với giá trung bình 1.200 đô la một tấn theo điều kiện CF, tức bao gồm giá gạo và cước vận chuyển tàu biển giao hàng tại cảng người mua.

Photo AFP

Giá gạo tăng cao, giới xuất khẩu được lợi, nhưng nông dân thì không.

Việt Nam hạn chế xuất khẩu gạo, nhưng 4 doanh nghiệp Nhà nước vẫn được phép dự thầu ở Manila vào hôm 17/4, chào bán  khỏang một trăm ngàn  tấn  gạo 25% tấm  cho Philippines  với giá  trung bình 1.200 đô la một tấn theo điều kiện CF, tức bao gồm giá gạo và cước  vận chuyển tàu biển  giao hàng tại cảng người mua. 

Đây là giá bán gạo  chưa từng có trong lịch sử thương mại Việt Nam,  liệu nông dân trồng lúa ở Việt Nam có  được hưởng lợi vì giá xuất khẩu cao hay không. Nam Nguyên  phỏng vấn Tiến sĩ Lê Văn Bảnh, Viện Trưởng Viện Lúa Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long:

Nam Nguyên:   Thưa ông giá lúa đồng bằng sông Cửu Long hiện nay là bao nhiêu?

Tiến sĩ  Lê Văn Bảnh: Sau khi ngưng xuất khẩu, giá gạo chựng lại còn từ 4 ngàn tới 4 ngàn rưởi. Tiếp theo chính phủ có chủ trương để người nông dân có nguồn vốn chuẩn bị vụ Hè Thu, cũng như có ký hợp đồng với một số nơi thì giá lúa đã nhích lên hiện nay lúa trung bình khỏang 5 ngàn đồng/kg.

Nam Nguyên: Như thế so sánh với giá  xuất khẩu 700 đô la /tấn thì giá lúa có tương ứng không, hay là vì chính phủ có biện pháp kềm giá làm nông dân không được hưởng lợi nhiều.

Tiến sĩ  Lê Văn Bảnh: Khi mua là theo giá thị trường, chứ người ta cũng không tính là xuất khẩu giá 700 đô thì giá lúa là bao nhiêu. Thí dụ lúc trước nông dân bán lúa 3 ngàn thì giá xuất khẩu 300 đô la. Bây giờ bán lúa 4 ngàn 5 ngàn giá xuất khẩu 700 đô, nhưng người nông dân không có tính giá lúa theo giá xuất khẩu.

Mọi việc là do thị trường, nếu nhu cầu  ký bán xuất khẩu với nước ngoài nhiều, thương lái mua nhiều lượng hàng hiếm đi thì giá tăng. Không có sự tương quan giữa giá lúa 4 ngàn hay 5 ngàn với giá gạo xuất khẩu 500 đô hay 700 đô, hai cái này không tương quan với nhau.

Nam Nguyên: Chi phí lao động, vật tư đầu vào tăng cao theo lạm phát, đặc biệt giá dầu trên thế giới đã   hơn 110 đô la. Vậy theo ông nông dân có đủ trang trải cuộc sống hay không với giá lúa họ bán hiện nay tối đa 5 ngàn đồng/kg.

Tiến sĩ  Lê Văn Bảnh:  Giá lúa thường là 5 ngàn/kg lúa thơm cao hơn nữa. Nhưng mà như anh nói, giá  vật tư  xăng dầu phân bón  các khỏan khác đều tăng. Nông dân nói là nước lên thuyền lên, lúc trước bán lúa 3 ngàn/kg thì chi phí khỏang 1.800đ/kg, bây giờ bán lúa 5 ngàn thì chi phí khỏang 2.200 tới 2.500đ/kg thí dụ vậy. Ứơc tính chi phí khỏang phân nửa. Bây giờ bán lúa cao hơn nhưng chi phí đầu vào cũng cao hơn.  Giá gạo xuất khẩu 500 đô, 700 đô doanh nghiệp được lợi , người khác được lợi  chứ người nông dân chỉ được một khỏan nhỏ trong đó.

Nam Nguyên:  Nhưng người nông dân vẫn phải sinh họat, cho con đi học, tiền nợ, tiền lãi mọi thứ, e rằng họ gặp nhiều khó khăn?

Tiến sĩ  Lê Văn Bảnh: Vâng, như các anh ở nước ngoài thấy  gạo xuất khẩu lúc đầu bán 300 đô la, rồi  500 đô la tăng lên 700 đô la có thể lên 1.000 đô la,  nhưng bà con nông dân lại đang gặp nhiều khó khăn.  Tất nhiên vật tư tăng, chi phi lao động tăng, cái gì cũng tăng, công nghệ phẩm tăng, mức lạm phát ở Việt Nam đã 9% tới 10% dù Việt Nam tích cực chống lạm phát. 

So với trước đời sống nông dân cũng có cải thiện nhưng là tốc độ chậm,  so với  thành thị thì lại là vấn đề khác. Đời sống nông dân có tăng mợt chút nhưng không phải là phấn khởi lắm, người ta vẫn còn nhiều khó khăn. Do vậy Nhà nước cần có những chính sách phát triển nông thôn, hiện nay đang quan tâm vấn đề tam nông, nông nghiệp nông thôn nông dân, để có sự phát triển đồng bộ đời sống nông thôn tốt hơn.

Trong thời gian ngắn hạn

Nam Nguyên: Thưa đó là câu chuyện lâu dài, trước mắt nếu nói xuất khẩu gạo 700 đô la 800 đô la, một ngàn đô /tấn mà không mua lúa của  nông dân cao hơn, thì chúng tôi thấy là có lẽ sự điều hành vô hình chung đã làm lợi cho thương lái,  doanh nghiệp chế biến xuất khẩu, thay vì lợi tức đó đáng lẽ là của nông dân. Thưa ông thấy có cần điều chỉnh   trong ngắn hạn.

Tiến sĩ  Lê Văn Bảnh: Vấn đề đó, các nhà khoa học chúng tôivà báo chí cũng quan tâm là phải có cách nào đó để người nông dân được hưởng lợi, hiện nay thị trường thế giới rất cần gạo và người nông dân làm ra gạo, nhưng nguồn lợi của họ tăng lên không đáng kể so với giá  gạo tăng.

Trước mắt chúng tôi thấy là ở đây chưa có phương hướng gì cụ thể,  riêng phần chúng tôi cố gắng phối hợp giúp cho bà con nông dân bằng cách tạo giống mới, tập huấn bà con nông dân, hướng dẫn bà con dùng loại phân nào thúôc nào cho tiết kiệm và phù hợp để cúôi cùng giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận cho bà con. Còn giá 5 ngàn, 6 ngàn là chuyện thị trường rất khó nói trước.

Phần chúng tôi chỉ giúp  ứng dụng khoa học kỹ thuật giúp bà con giảm chi phí, giảm thất thóat sau thu họach. Về mặt chung, tôi thấy Nhà nước cũng đang cố gắng kềm giá không cho trượt giá qua các  tổng công ty như phân bón…xăng dầu hiện nay bên ngoài hơn 100 đô la một thùng, nhưng ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa tăng giá. Điều này cũng là một cách để giảm chi phí sản xuất.

Nam Nguyên:  Cảm ơn Tiến sĩ Lê Văn Bảnh Viện trưởng viện lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long.