Khát nước do khô hạn, người dân cầu mưa

Nước mặn xâm nhập sâu vào nội địa khiến khu vực đồng bằng sông Cửu Long ngày càng thiếu nước ngọt. Trời khô hạn nên đất trông mưa, còn người dân thì mong chờ có nước ngọt.
Quỳnh Như, phóng viên RFA
2010-04-26
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này
Do khô hạn nên nhiều diện tích trồng lúa ở miền Trung phải chuyển sang trồng hoa màu.
Do khô hạn nên nhiều diện tích trồng lúa ở miền Trung phải chuyển sang trồng hoa màu.
Photo courtesy of pclb.thuathienhue.gov

Thiếu nước ngọt, giá nước leo thang

Ở những nơi đó, nước ngọt sinh hoạt có giá trên trời, nhưng cũng không thể sử dụng vào việc ăn uống.  Cùng với các địa phương khác nhiều huyện của tỉnh Bến Tre và Long An đang trong cơn “khát nước.”

Những ngày qua, trên những tuyến sông của các tỉnh ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Nước mặn ngày càng lấn sâu vào diện tích đất canh tác và sinh sống của người dân, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống. Khi hỏi về những ảnh hưởng của thời tiết hạn hán đối với việc sạ lúa thì người dân ở những nơi này đều cho hay hầu hết họ chỉ làm được một vụ lúa trong năm mà thôi. Nên khó khăn chủ yếu hiện nay là việc thiếu nước ngọt cho sinh hoạt.

Ông Nguyễn Văn Tu, Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre cho hay, hiện nay có hàng chục ngàn hộ dân vùng ven biển của huyện đang đối mặt với tình trạng thiếu nước nghiêm trọng. Khó khăn nhất là ở các xã Thới Thuận, Thạnh Phước và một phần của xã Thạnh Trị, do đây là vùng nuôi tôm nên nguồn nước ngầm bị ô nhiễm nặng. Giá nước ngọt lấy từ ao hồ, sông rạch vận chuyển bằng xe máy cày có giá từ 30,000, 40.000 lên đến 60.000 cho tới 100.000 đồng/xe, khoảng từ 1,5 – 2m3, tùy theo vùng.

Ở thành phố người ta chỉ bán có 4 hoặc 5 ngàn đồng một khối, còn ở đây phải mua với giá 30,000 đồng một khối, vì vậy, đời sống của bà con ở đây cũng gặp nhiều khó khăn.
Ô. Nguyễn Xuân, tỉnh Bến tre

Ông Nguyễn Xuân, người dân ở xã Thạnh Phước, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre cho biết: “Tình hình khô hạn của địa phương mình năm nay cũng tương đối, và khả năng xâm nhập mặn năm nay vào sâu trong đất liền cỡ khoảng trên 50km, nên khó khăn về nước cũng dữ lắm, đặc biệt ở khâu nước uống, nước ngọt.

Mọi năm sinh hoạt bình thường cũng như vậy thôi, nhưng năm nay khó khăn hơn, ví dụ như dọc dài theo tuyến của xã Thạnh Phước, người ta có thể đào giếng để vét nước ngọt lên, còn năm nay thì không có, hoặc có nước thì bị phèn xài không được, chỉ dùng để rửa chân tay mà rửa chân tay cũng bị ngứa.”

Ông Xuân cho biết người dân ở đây đã tìm cách khắc phục tình trạng này từ bao đời nay:

“Để khắc phục thì thứ nhất người ta xây hồ để dự trữ nước mưa. Thứ hai là người ta đổi nước ở vùng có nước ngọt mang tới, nhưng nước ngọt rất mắc, với giá khoảng 8, 9 chục ngàn một xe, nếu tính ra tới cỡ khoảng 30,000 đồng một khối nước. Ở thành phố người ta chỉ bán có 4 hoặc 5 ngàn đồng một khối, còn ở đây phải mua với giá 30,000 đồng một khối, vì vậy, đời sống của bà con ở đây cũng gặp nhiều khó khăn.

Bây giờ xăng dầu mắc, cho nên bây giờ nước người ta bán cũng mắc, dầu lên thì nước cũng lên. Ví dụ như năm rồi đổ chừng cỡ 40,000 đồng thì năm nay lên đến 90,000 đồng rồi, tăng 50% rồi. Cuộc sống của người dân cũng khổ sở dữ lắm, người dân cũng phải thắt lưng buộc bụng. Nước gánh về chỉ để sinh hoạt, còn nước để ăn, uống thì người ta phải làm những cái hồ để chứa nước mưa sử dụng.”

Trông chờ vào mưa

Hiện tượng khô hạn vụ đông xuân 2006-2007. Photo courtesy of agro.gov.vn
Hiện tượng khô hạn vụ đông xuân 2006-2007. Photo courtesy of agro.gov.vn Photo courtesy of agro.gov.vn
Cũng tương tự, ở tỉnh Long An, nắng nóng kéo dài đã làm cạn kiệt nguồn nước ở một số huyện trong tỉnh như Cần Giuộc, Cần Đước, khiến cho hàng ngàn hộ dân thiếu nước sinh hoạt trầm trọng. Bà Nguyễn Thị Xuân Hương, Giám đốc Trung tâm Nước thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Long An giải thích, do đặc trưng của các xã vùng hạ là 6 tháng có nước ngọt và 6 tháng chỉ có nước mặn nên nhiều xã không thể khoan giếng lấy nước được.

Theo bà Đào ở Huyện Cần Đước, Long An thì “hiện nay, nước sông thì mặn, còn nước xài thì hiếm hoi lắm, ghe đổi nước thì không có. Mà nước vô tại nhà mình thì cũng không có đủ để xài mỗi ngày. Nước ghe chừng khoảng một tuần thì vô đổi 1,400 đồng một đôi nước.”

Người dân vùng này từ trước đến nay chưa hề có nước ngọt cung cấp từ nhà máy mà có thể dùng để uống hay nấu nướng. Bà Đào nói tiếp:

“Nước nhà máy không có, chỉ có nước mưa với nước sông thôi, còn nước giếng là mình xài vào việc ăn uống. Nếu trời khô hạn tiếp tục kéo dài đến khoảng hết tháng 4, qua tháng 5, không có mưa thì sợ không còn nước dự trữ đủ để dùng, nhưng nếu có ghe đi thường thì có thể có nước để xài.”

Khi hỏi về tình hình thiếu nước ngọt hiện nay, ông Đặng, một nông dân sinh sống tại một ấp thuộc cù lao Long Hựu ở Long An cho biết về tình hình khô hạn năm nay: “Đúng là mùa nắng kéo dài hơn một tháng, khác với mọi năm. Cho đến lúc này thì vùng này chưa có hột mưa nào hết thành ra nước hiện giờ thì cũng đang thiếu trầm trọng, điện cũng thường bị cắt, nên những trạm bơm cũng bị thiếu nước.

Vùng này nước mặn không lên, đây là vùng cù lao Long Hựu, xã này là xã cù lao nên chỉ chờ trời mưa thôi, chứ không thì ruộng cũng chịu chết, không làm được.”

Vùng này nước mặn không lên, đây là vùng cù lao Long Hựu, xã này là xã cù lao nên chỉ chờ trời mưa thôi, chứ không thì ruộng cũng chịu chết, không làm được.
Ông Đặng ở Long An

Quỳnh Như: Thưa ông, nếu thiếu nước thì bà con ở đây phải giải quyết bằng cách nào?

Ông Đặng:Thiếu nước thì có ghe chở nước từ Thành phố Hồ Chí Minh về, hoặc là những xe nước người ta chở về đổi khoảng hai ngàn đồng một đôi. Tại địa phương cũng có nước máy nhưng do độ sắt nhiều nên dùng cũng không bảo đảm. Đa số các hộ gia đình xây hồ chứa nước mưa để sử dụng vào việc ăn uống, còn nước này chủ yếu là nước để dùng cho sinh hoạt, tắm rửa, vậy thôi.”

Một số nơi có điều kiện, thì các ngành chức năng cũng tìm cách giải quyết tình trạng khan hiếm nước ngọt do đất bị nhiễm mặn và thời tiết hạn hán kéo dài. Ông Xuân ở Bình Đại cho biết:

“Vùng Bình Đại hiện nay người ta đã ngăn con sông Ba Lai đổ ra Biển Đông, vùng đó người ta lấy nước ngọt từ Bến Tre xuống, thì có lẽ năm tới đây, trong vòng khoảng cỡ cuối năm nay sẽ có nước để xài, người ta gọi là nước phông-tên. Bây giờ mới đang bắt đầu đặt đường ống, đang thiết kế nhà máy cũng được tới khoảng 80% rồi. Nếu có nước máy này để sử dụng thì cuộc sống của nhân dân sẽ nâng lên. Mình sẽ lấy nước này tưới cây được, vì nước này không sạch sẽ như nước mưa mình hứng để có thể dùng trong ăn uống nhưng nói chung cũng xài được, giá là 10,000 đồng một khối thì cũng tương đối. Nhưng hiện giờ thì chưa có phải đến cuối năm nay kìa.”       

Cùng mong ước như ông Xuân, người dân ở các địa phương khan hiếm nước ngọt cũng nóng lòng trông chờ những biện pháp từ phía chính phủ để giải quyết cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của họ. 

Theo dòng thời sự:

Xem toàn trang