Bài học cải cách cho Việt Nam rút ra từ mô hình Trung Quốc

Bài phân tích của TS. Phạm Quý Thọ
2022.03.04
Share on WhatsApp
Share on WhatsApp
Bài học cải cách cho Việt Nam rút ra từ mô hình Trung Quốc Hình minh hoạ. Cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam trên đường phố Hà Nội trước Đại hội 13 hôm 22/1/2021
AFP

Bài học cải cách lớn nhất là thấu hiểu và vận dụng tư tưởng thực dụng như một chủ nghĩa cho phép liên kết tạm thời giữa kết quả thực tế và lý thuyết được coi là không trực tiếp tạo ra nó: thị trường và ý thức hệ chủ nghĩa xã hội (CNXH).

Nghiên cứu sự vận hành mô hình Trung Quốc (Xem: Năm mươi năm mô hình Trung Quốc, RFA, 1/3) trong suốt thời gian dài cho thấy chu kỳ thịnh suy, khởi đầu khó khăn, tăng trưởng và duy trì, và suy thoái, đặc trưng và điển hình đối với các chế độ toàn trị, độc đoán có cội nguồn từ thậm chí từ chế độ tập quyền phong kiến, đồng thời nó cũng cho biết Trung Quốc đang ở giai đoạn suy thoái của chu kỳ và gợi ý mở cho dự đoán cho lựa chọn hoặc là quay lại XHCN kiểu Mao hoặc là sụp đổ theo kiểu chuyển đổi dân chủ như một kết cục tất yếu. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với Việt Nam, bản sao của mô hình này, không công khai thừa nhận nhưng đã vướng vào “vòng kim cô” của tư tưởng thực dụng có nguồn gốc Trung Quốc, làm sao có thể bứt phá để tiếp tục cải cách thậm chí tìm kiếm cơ hội chuyển đổi dân chủ.

Việc vận dụng sáng tạo tư tưởng thực dụng cần được hiểu là không để cho ý thức hệ CNXH giáo điều níu kéo. Theo chủ nghĩa thực dụng, tầm quan trọng và đúng đắn của một hệ tư tưởng, học thuyết… được xác định bởi những kết quả và sự tác động thiết thực của của chính sách hay quyết định bởi tổ chức đảng, chính phủ hay cá nhân người lãnh đạo. Ý tưởng khái quát qua phát biểu của Đặng Tiểu Bình về “mèo trắng mèo đen” đã được khai triển mạnh mẽ, thiết thực và xuyên suốt ở Trung Quốc. Tư tưởng Mác – Lênin, ý thức hệ CNXH là nền tảng lý luận của độc đảng cộng sản để duy trì chế độ toàn trị, tuy nhiên triết lý thực dụng mách bảo vẫn “duy trì” nó nhưng đừng “bảo thủ” để không tạo ra các rào cản trong tư duy và hành động hướng tới kết quả có lợi cho dân cho nước. Và rằng, hãy “tạm gác nó sang bên”, coi đó như một “sách lược”, như một bước lùi của chiến lược lâu dài để phát triển lực lượng sản xuất nhằm hướng tới xã hội chủ nghĩa. Về mặt này mô hình Trung Quốc đã kéo dài “giai đoạn “thịnh” trong gần một phần ba thế kỷ.

Chủ nghĩa thực dụng (gốc từ tiếng Hy Lạp là πραγματος — “việc làm, hành động”; tiếng Anh: pragmatism), còn gọi là là chủ nghĩa hành động, là một thuật ngữ thông tục để chỉ lối hành xử dựa trên tình hình thực tế được biết đến, do đó hành động thiết thực được đặt trên lý lẽ có tính lý thuyết. Trong chủ nghĩa thực dụng, chân lý của hệ tư tưởng, học thuyết hay lý thuyết được đánh giá bởi thành công thực tế của nó, cho nên hành động thực dụng không gắn liền với nguyên tắc bất biến.

Chủ nghĩa thực dụng chứa đựng tư tưởng triết học sâu xa và phức tạp. Nó được phát triển như một trường phái triết học, xã hội học từ cuối thế kỷ 19 đến nay, đặc biệt ở Mỹ được coi như kiểu tư duy và phong cách hành động. Có ý kiến tranh luận, thậm chí phê phán về tính cơ hội về chủ nghĩa thực dụng Mỹ, tuy nhiên người ta đã không thật sự hiểu đầy đủ rằng chính hệ tư tưởng này được dựa trên chủ nghĩa tự do cá nhân và được hỗ trợ bởi chế độ pháp trị Mỹ dựa trên tam quyền phân lập kiểm soát quyền lực hiệu quả, tạo ra sự cân bằng động. Chủ nghĩa thực dụng như vậy đã thúc đẩy phát triển kinh tế và và dân chủ tương đối bền vững.

Giới tinh hoa Trung Quốc nhận thức được điều này khi tạo ra tư tưởng thực dụng mang thương hiệu của riêng họ, đối diện không để cho kiểu dân chủ phương Tây thâm nhập làm ảnh hưởng đến sự lãnh đạo và điều hành chuyển đổi kinh tế sang thị trường bằng cách thúc đẩy một chủ thuyết riêng, thuyết chủ quyền quốc gia mang chủ nghĩa dân tộc đại Hán, đứng đằng sau nó là “nhà lý luận cung đình” Vương Hộ Ninh, một trong bảy Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị Đảng CS TQ, nhân vật quan trọng về ý thức hệ chỉ sau Tổng Bí thư Tập Cận Bình. Chủ thuyết này được coi như một thứ keo hay vật liệu “vô hình” kết dính giữa hệ tư tưởng Mác – Lênin để duy trì chế độ với các giá trị lý tưởng xa vời với thực tế thị trường thiết yếu, gần gũi với cuộc sống xã hội của người dân, trong đó thực tế được coi là chân lý và đặt trên và trước học thuyết hay hệ tư tưởng.

Các nhà lãnh đạo dường như trong một thời gian đã không nhận thấy rằng sự thực hành chính sách thực dụng đã tạo ra một nhà nước Trung Quốc tư bản thân hữu và chủ nghĩa dân tộc làm bệ đỡ cho chế độ. Ngay cả khi quần đảo Hoàng Sa, đảo Gạc Ma đã bị xâm chiếm nhưng sự lệ thuộc kinh tế như bất cập về cán cân thương mại, rối loạn thị trường tiểu ngạch và các dự án quan trọng, kém hiệu quả trong ngành năng lượng, giao thông… dù đã được giới chuyên gia cảnh báo, nhưng đã không được khắc phục. Cố Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu từ những năm 1990 khi thăm và tham vấn với các lãnh đạo Việt Nam như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, đã hé lộ sự ám chỉ về việc bị níu kéo ý thức hệ CNXH trong thực tế chính sách và hành động. Việc coi ý thức hệ CNXH là vấn đề nhạy cảm nặng nề đã cản trở việc vận dụng triết lý thực dụng trong thực tế, khiến việc xây dựng và thực thi chính sách “nửa vời” giữa CNXH và thị trường.

Như hậu quả không thể phủ nhận là chu kỳ thịnh suy của sự vận hành đường lối Đổi mới đã không thể duy trì được lâu như mong muốn, giai đoạn khởi đầu khó khăn được coi vào năm 1986 tại Đại hội 6 Đảng CS VN, giai đoạn tăng trưởng tương đối cao nhưng không bền vững chỉ kéo dài đến khi “bất ổn kinh tế vĩ mô và thể chế” vào những năm trước và sau Đại hội 11 năm 2011. Sự khởi đầu, như một nguyên nhân, cho giai đoạn suy thoái kéo dài cho đến nay là những sai lầm về chính sách tăng trưởng nóng vội dựa vào các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước, thành phần CNXH chủ đạo trong nền kinh tế.

000_Hkg10249318.jpg
TBT Nguyễn Phú Trọng (trái) và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Đại hội Đảng ở Hà Nội hôm 26/1/2016. AFP

Biểu hiện rõ rệt là trạng thái “tuy một mà hai, tuy hai mà một” giữa cơ quan đảng chuyên trách chính trị và các bộ ngành kỹ trị chuyên môn của chính phủ, không được hỗ trợ bởi cơ chế phân quyền và kiểm soát quyền lực rõ ràng và hiệu quả. Như vậy, bất ổn là vấn đề nội bộ đảng, hơn thế từ “thượng tầng”. Đảng đã không thể kỷ luật vị nguyên thủ tướng thời kỳ này vì chính sự lãnh đạo toàn diện của đảng và nguyên tắc lãnh đạo tập thể của đảng!

Những cải cách được thực thi, mặc dù “rất nỗ lực” trong hai nhiệm kỳ các Đại hội đảng CS 11 và 12 và hiện nay là Đại hội 13, nhưng chưa thực sự chấm dứt được giai đoạn suy thoái. Vị trí Tổng Bí thư đảng đã phải dùng hai lần “trường hợp đặc biệt” để phá vỡ giới hạn tuổi và nhiệm kỳ để kéo dài quyền lực. Nhiều quy định, tiêu chuẩn về cán bộ đã siết chặt và bổ sung các chức năng, quyền hạn cho các cơ quan đảng về phòng chống tham nhũng, chống suy thoái chính trị và đạo đức lối sống. Hàng chục nghìn tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo đảng viên, kể cả cấp cao nhất như Uỷ viên Bộ Chính trị, bị kỷ luật đảng và chịu các án tù khác nhau. Hàng chục cán bộ được thanh lọc hay luân chuyển các vị trí công tác… Đảng CS VN đã thừa nhận cần thiết cải tổ chính trị và đang đặt cược cải cách thể chế vào công tác tổ chức cán bộ và chống tham nhũng!

Các động thái chỉnh đốn đảng như trên đều hướng đến sự tập trung quyền lực đảng cao hơn, như một bước lùi hơn là một bước tiến đến dân chủ và kiểm soát sự tha hoá. Những cải cách thị trường và sự vận hành bị “trì trệ”, thậm chí “bế tắc” ở nhiều lĩnh vực và địa phương bởi quốc nạn tham nhũng vẫn hoành hành. Ngoài ra, nguy cơ níu kéo ý thức hệ giáo điều có chiều hướng trầm trọng thêm, tuyên giáo đang phát động “bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, các nhà lý luận “cung đình” luận luận biện minh cho mô hình “kinh tế thị trường định hướng XHCN” là một sáng tạo của Đảng…

Nhiều yếu tố đặc thù khác khiến Việt Nam không thể “sao chép” mô hình Trung Quốc, nhưng thấu hiểu đầy đủ và sâu xa về tư tưởng thực dụng như một chủ nghĩa có thể thúc đẩy cải cách tiến bộ, trong đó hai vấn đề cốt lõi của bài học cần được các nhà cải cách lưu tâm. Một là, học hỏi đặc biệt về tư tưởng thực dụng để thoát khỏi sự ám ảnh về ý thức hệ và lệ thuộc kinh tế vào chính Trung Quốc; Và, hai là, sự suy thoái bộc lộ giai đoạn suy của chu kỳ chế độ tập quyền, không thể mãi “thực dụng”, từ đó đặt câu hỏi liệu có cơ hội nào cho chuyển đổi dân chủ? Hiện thời đây có thể là khe cửa hẹp, nhưng đến lúc nào đó cánh cửa sẽ được mở ra. Hãy biết hy vọng!

* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do.

Nhận xét

Bạn có thể đưa ý kiến của mình vào khung phía dưới. Ý kiến của Bạn sẽ được xem xét trước khi đưa lên trang web, phù hợp với Nguyên tắc sử dụng của RFA. Ý kiến của Bạn sẽ không xuất hiện ngay lập tức. RFA không chịu trách nhiệm về nội dung các ý kiến. Hãy vui lòng tôn trọng các quan điểm khác biệt cũng như căn cứ vào các dữ kiện của vấn đề.

Nhận xét

TRANTUS
04/03/2022 13:09

Dan Ta da tung co cau "Sam":
" Trang chet thi Chua cung bang ha!
Dua gang do dit thi caf cung do chon"
Vay nen khi da co quyen luc thi hau nhu Can Bo tranh thu vo vet theo triet ly: " Me too"-Toi gi ma khong tranh thu vo vet!./.

Anonymous
05/03/2022 14:40

PQT hiện thân của phản biện tư tưởng lý luận rất hay kiến thức rộng nhưng 0 đi tới đâu bởi thiếu chiều sâu đơn giản nói đến CN thực dụng tràn gian đại hải rất hay nhưng gốc vì nằm trong CNHT thì phải có kết quả= CN thực chất tóm gọn TQ lừa dối 1/2 sự thật thực dụng và 1/2 giả dối thực chất= ĐCS lãnh đạo định hướng CNXH lấp liếm QLĐT loại TDDC ra hình thái hiện nay học giả bối rối lý luận
mách nhõ các bạn VN thỏa hiệp đã được thông qua trã lại LS theo HĐ 73 TQ đồng ý chia đôi VN nay tôn trọng ý thức hệ MB nội gián tâm tư gen đồng hóa về gốc DT choang con hoang xin trỡ về MN khai phóng hòa với DT Chăm LSVH hòa hiếu ảnh hưởng nền TDDC từ lâu thủ đô Huế chịu giao tiếp Hội an mở rộng tầm nhìn tiếp thu VHGD Pháp nhìn lại LS hiện rõ từ thời (TH) Lê Lợi đuổi giặc xong là bị kẽ thù sau lưng hại gây chia rẽ vùng miền BN bởi tâm tư thần phục cùng tổ tiên choang rất vui mừng vì các nước lớn thỏa hiệp theo nguyện vọng tâm tư VN đồng ý cho TQ tập trận lôi con hoang về trong tâm tư thần phục yên bình với MN dân đứng lên đòi ĐLTD thì trã theo HĐ73 tùy theo lòng dân nếu BTB Thanh hóa đứng lên đòi theo MN thì oke tôn trọng quyền tự quyết TDDC mọi việc ổn định TQ giải tỏa nội bộ ĐL yên bình VN tư tưởng quan điễm rỏ TDDC thuận lợi Ftr Asean ĐCSVN-NPT yên tâm dính lẹo tư tưởng TCB hình ảnh già ốm yếu bị to khỏe lôi kéo lên bờ xuống ruộng vẫn la toáng CNXHTQ sướng ôi là sướng đúng tâm tư ĐCS

Duy Hữu, USA
05/03/2022 20:21

Tại sao, tại sao, tại sao...
Đảng Búa Liềm có quyền " chính đáng ", " chính danh ", " chính nghĩa ", độc đảng, độc tài, độc quyền " lãnh đạo " dân Việt Nam ?

Tại vì, tại vì, tại vì...
Đảng Búa Liềm tao có độc quyền ly thuyết Chủ nghĩa Xã hội Búa Liềm của bác Mác, Lê Nin, Xì Ta Lin, Mao... bác Hồ tao mượn.

Thế thì, thế thì... Chủ nghĩa Xã hội Búa Liềm là thế thế nào ?

Chủ nghĩa Xã hội Búa Liềm... là đảng Búa Liêm tao có súng, có quyền " chính đáng ", " chính danh ", " chính nghĩa ", độc đảng,
độc tài, đôc quyền " lãnh đạo " dân mày tiến tới Chủ nghĩa Xã hội Búa Liềm... nghe chưa, hiểu chưa !

Thực tế đi, đùng có lý thuyêt... cần thực tế, thực sự đi...

Thực tế là đảng Búa Liềm tao, có súng, đéo có cần lôi thôi lý luận Chủ nghĩa Xã hội Búa Liềm, chỉ cần độc đảng, độc tài,
độc quyền... bất chính, bất lương, bất nhân... tiến tới Chủ nghĩa Xã hội đen, Xa hội đỏ, tư bản đỏ, tư bản đen, tư lơi đỏ, tư lợi đen Búa Liềm... thực tại, thực tế là thế thế đấy... nghe chưa, hiểu chưa... muốn ăn đạn chưa, muốn ở tù chưa ... thì bảo ?

À thì ra, thì ra thế, có súng, dí súng, nói cái gì gì cũng đúng cái chi chi, làm cái chi chi cũng đúng cái gì gi... cái cục c... cái con c...