Bệnh vẩy nến (phần 2)

Trong phần 2 về chứng bệnh ngoài da phổ biến ở trong nước, Bác sĩ Đức Thọ tiếp tục trình bày về các phương thức chữa trị.
Trà Mi, phóng viên đài RFA
2008-06-15
Share
vaynen-bvdaihoc.jpg Các nơi trên cơ thể thường có bệnh vẩy nến. Tài liệu của Bệnh viện Đại học
courtesy of bvdaihoc

Qua những cuộc trao đổi giữa Trà Mi với các bác sĩ trong và ngoài nước thuộc nhiều chuyên khoa khác nhau,  chuyên mục Sức Khoẻ và Đời Sống sẽ cung cấp kiến thức y học tổng quát nhằm giúp nâng cao nhận thức về việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ. 
 
Tuần rồi, bác sĩ Đức Thọ, chuyên khoa da liễu trong nước, trình bày chi tiết những đặc điểm của bệnh vẩy nến, từ triệu chứng, nguyên nhân, đến những yếu tố dễ làm phát bệnh.
 

Đây là một bệnh không lây, do đó đối với người lành thì việc phòng bệnh vẩy nến không có ý nghĩa gì nhiều. Cái vấn đề là người thấy thuốc chuyên khoa có thể am hiểu về bệnh lý sẽ khuyến cáo cho người thân trong gia đình của bệnh nhên vẩy nến về việc bệnh có thể có tính di truyền với tỷ lệ tư 8% đến 40%.

Là một bệnh ngoài da khá phổ biến tại Việt Nam, tầm nguy hiểm của bệnh vẩy nến ra sao? Bệnh vẩy nến đựơc chữa trị như thế nào? Và mọi người có thể làm gì để tránh khỏi căn bệnh này?
Trà Mi : Cảm ơn Bác sĩ đã trở lại với chương trình để tiếp tục giải đáp những thắc mắc xung quanh bệnh vẩy nến. Bệnh vẩy nến có thể gây ra những biến chứng như thế nào, có nguy hiểm lắm không, thưa Bác Sĩ?
 
Bác sĩ Đức Thọ: Các biến chứng thường gặp của vẩy nến là đau khớp, biến dạng khớp, chàm hoá (eczema), đỏ da toàn thân, bội nhiễm vi trùng ngoài da, và hiếm khi có thể gây ung thư da.

Các bác sĩ chuyên khoa da liễu phân biệt các thể bệnh vẩy nến theo các biểu hiệu lâm sàng, theo số lượng sang thương, theo kích thước sang thương, theo sự lan rộng của sang thương hay là theo hình thể, vị trí, và theo tuổi của bệnh nhân, thì các bác sĩ có thể phân biệt vẩy nến giọt, vẩy nến mãn, vẩy nến toàn thân, vẩy nến khớp, vẩy nến mủ, vẩy nến da đầu, vẩy nến móng, vẩy nến niêm mạc, vẩy nến bẫm sinh, vẩy nến trẻ em, hay là vẩy nến đỏ da toàn thân.
 
Trà Mi: Bệnh vẩy nến được điều trị ra sao?
 
Bác sĩ Đức Thọ: Việc điều trị bệnh vẩy nến hiện nay vẫn còn nan giải. Có rất nhiều loại thuốc và nhiều phương pháp điều trị bệnh vẩy nến đựoc đề nghị, nhưng trên thực tế chưa có phương pháp nào được xem là tối ưu để có thể chữa bệnh khỏi hẳn được hoàn toàn.


Các loại thuốc Đông y cũng có thể được dùng để điều trị vẩy nến như là hạ khô thảo, thổ phục linh, dùng ngoài.
Và hiện nay khoa học có phát triển thêm các loại thuốc bôi mới để điều trị vẩy nến như là Casarotene, như là Tacolimide.
Tất cả các phương pháp điều trị và các loại thuốc chỉ mới dừng lại ở mức độ làm cho bệnh thuyên giảm hay giảm mủ về mặt lâm sàng và hạn chế tái phát, phòng ngừa biến chứng. Bệnh nhân vẩy nến phải kiên trì trong việc điều trị bệnh.

 
Đối với trường hợp vẩy nến ở mức độ nhẹ và trung bình thì các bác sĩ có thể áp dụng phương pháp điều trị tại chỗ bằng các loại thuốc bôi thông thường. Còn đối với các loại vẩy nến thuộc dạng trung bình hay là bệnh nặng hơn thì có thể phải dùng đến phương pháp điều trị bằng tia cực tím hay là dùng các loại thuốc uống toàn thân.
Về điều trị tại chỗ, có rất nhiều loại thuốc bôi được sử dụng tại chỗ để điều trị bệnh vẩy nến, thí dụ các loại thuốc có chứa chất corticosteroide là Niposone, Niposalic. Các loại thuốc gây tiêu chất sừng có chứa acid salysilic. Các chất khử có chứa hắc ín như là Coalpha, dầu cặn, các dẫn xuất của vitamin D3 là calcipotrium mà có biệt dược phổ biến là Donovex.


Các loại thuốc Đông y cũng có thể được dùng để điều trị vẩy nến như là hạ khô thảo, thổ phục linh, dùng ngoài.

Và hiện nay khoa học có phát triển thêm các loại thuốc bôi mới để điều trị vẩy nến như là Casarotene, như là Tacolimide.

Phương pháp điều trị thứ hai là dùng các loại thuốc uống hệ thống trong cơ thể, thì các loại thuốc cổ điển gồm có một số thuốc khá đăt và có nhiều độc tính cũng như tác dụng phụ, như là Cycloporine, Methotrexate.
Còn các loại thuốc sinh học mới thì có thể tác động trực tiếp lên tế bào T hoặc là Xitokine như là Alefacept, Casarotene. Các thuốc sinh học mới được xem là một thế hệ thuốc trị liệu mới trong việc kiểm soát và điều trị bệnh vẩy nến.

Trà Mi: Ngoài thuốc bôi và thuốc uống, còn phương pháp chữa trị nào khác không, thưa Bác sĩ?
 

Bác sĩ Đức Thọ: Phương pháp điều trị thứ ba là quang trị liệu. Người ta dùng tia cực tím tác động trực tiếp lên lớp thượng bì và trung bì trong việc điều trị vẩy nến. Cái ưu điểm điều trị của phương pháp này là tỷ lệ sạch thương tổn rất cao và thời gian khỏi bệnh rất nhanh. Thời gian bệnh tái phát thì lâu hơn.

Người ta có thể dùng liệu pháp quang hoá trị : Trước khi chiếu tia cực tím thì người ta dùng loại thuốc có chứa thuốc chất melanisine có tên biệt dược là Psoralene uống 2 tiếng đồng hồ trước khi chiếu trong thời hạn 5 tới 10 phút, chiếu 3 lần mỗi tuần. Phương pháp này có thể làm sạch sang thương vẩy nến với tỷ lệ cao và nhanh hơn là các loại thuốc bôi tại chỗ.

Nên giữ tinh thần luôn được thoải mái, tránh các lo âu, phiền muộn, các sang chấn về tinh thần, không thức khuya; tránh việc dùng nhiều các chất kích thích như là rượu bia, cà phê, thuốc lá, và hạn chế các loại thức ăn có nhiều đường, nhiều chất béo.

Đối với một bệnh lý mà chúng ta thấy có rất nhiều thuốc và rất nhiều phương pháp điều trị thì trong thực tế việc chữa khỏi hoàn toàn là chưa có thực hiện được.

Việc điều trị bệnh vẩy nến hiện nay chỉ nhằm mức độ tốt nhứt là làm thuyên giảm tạm ổn về mặt lâm sàng và hạn chế tái phát cũng như phòng ngừa biến chứng.
 
Trà Mi: Có cách gì phòng ngừa bệnh vẩy nến không, thưa Bác sĩ?

Bác sĩ Đức Thọ: Đây là một bệnh không lây, do đó đối với người lành thì việc phòng bệnh vẩy nến không có ý nghĩa gì nhiều. Cái vấn đề là người thấy thuốc chuyên khoa có thể am hiểu về bệnh lý sẽ khuyến cáo cho người thân trong gia đình của bệnh nhên vẩy nến về việc bệnh có thể có tính di truyền với tỷ lệ tư 8% đến 40% trong trường hợp một người thân như là cha hay là mẹ bị vẩy nến, hoặc là trong trường hợp có cả cha và mẹ cùng bị vẩy nến. Và riêng trong trường hợp anh em sinh đôi cùng trứng thì tỷ lệ cùng mắc bệnh vẩy nến là 75%. Thì chúng ta nên khuyên cho bệnh nhân hiểu rõ điều đó để không có bất ngờ cũng như không có hoang mang khi gặp phải bệnh vẩy nến.
 
Trà Mi: Cho những người đã mắc bệnh vẩy nến thì giới chuyên môn có những lời khuyên như thế nào?

Bác sĩ Đức Thọ: Đối với bệnh nhân vẩy nến thì việc phòng bệnh có tác dụng là hạn chế việc bệnh tiến triển nặng thêm hay là bệnh có thể tái phát, cho nên bệnh nhân được khuyến cáo: Thứ nhất, nên giữ tinh thần luôn được thoải mái, tránh các lo âu, phiền muộn, các sang chấn về tinh thần, không thức khuya; tránh việc dùng nhiều các chất kích thích như là rượu bia, cà phê, thuốc lá, và hạn chế các loại thức ăn có nhiều đường, nhiều chất béo.

Và điều quan trọng là bệnh nhân bị vẩy nên nên tránh dùng các loại thuốc ức chế miễn dịch hệ thống như là corticosteroide để điều trị bệnh vì trước mắt có thể làm sạch thương tổn nhanh hơn nhưng về sau có thể làm bệnh phát triển nặng thêm như là có thể chuyển sang vẩy nến mủ hay là gây trường hợp đỏ da toàn thân.

Cần điều trị tích cực và đúng ngay từ đầu để hạn chế biến chứng xảy ra và các biến chứng thường nhất là vẩy nến khớp gây biến dạng khớp ảnh hưởng tới khả năng lao động. Việc để tự nhiên, không điều trị, cũng có lúc bệnh khỏi, cũng có lúc bệnh tái phát, thì không sao.


Kế nữa là người bị vẩy nến nên hạn chế, tránh các chấn thương, các trầy xước ngoài da vì có thể làm bệnh nặng thêm.
 
Trà Mi: Có nhiều bệnh nhân bị vẩy nến mà cứ lâu lâu tới một thời điểm nào đó thuận lợi thì bệnh lại xuất hiện, rồi sau đó một thời gian không cần thuốc chữa trị gì hết thì thấy tự khỏi, nên họ cứ để như vậy cho qua. Như thấ có tốt không?
 
Bác sĩ Đức Thọ: Cái việc khống chế bệnh vẩy nến hiện nay vẫn còn giới hạn ở mức độ làm cho bệnh thuyên giảm hay là tạm ổn lâm sàng cũng như là hạn chế tái phát. Nhưng trên thực tế thì có một số trường hợp sang thương bệnh vẩy nến có thể tự khỏi, nhưng mà cũng có thể bệnh tái phát ở một thời điểm nào đó do những yếu tố kế hoạch bên ngoài.

Nhưng mà trong việc phòng ngừa thì cần điều trị tích cực và đúng ngay từ đầu để hạn chế biến chứng xảy ra và các biến chứng thường nhất là vẩy nến khớp gây biến dạng khớp ảnh hưởng tới khả năng lao động. Việc để tự nhiên, không điều trị, cũng có lúc bệnh khỏi, cũng có lúc bệnh tái phát, thì không sao.

Nhưng mà nếu để bệnh tái phát mà dạng gây ra biến chứng viêm khớp hay cứng khớp thì ảnh hưởng tới sức lao động. Bệnh nhân là nên điều trị tích cực ngay từ đầu và điều trị đúng phương pháp để đẩy lùi bệnh và hạn chế các biến chứng xảy ra.

Tóm lại, vẩy nến là một bệnh ngoài da, mãn tính, do phản ứng miễn dịch gây nên, gây viêm, ít phổ biến, với những biểu hiện lâm sàng đa dạng và không phải là luôn luôn dễ chẩn đoán đối với bác sĩ chuyên khoa. Bệnh cần phải được điều trị sớm và điều trị đúng để hạn chế các biến chứng.

Nguyên nhân của bệnh hiện nay cũng còn khá phức tạp nên việc điều trị bệnh cũng còn hạn chế ở mức khống chế tình trạng bệnh chứ chưa thể điều trị khỏi bệnh hoàn toàn. Một số trường hợp bệnh có thể khỏi bệnh tự nhiên nhưng bên cạnh đó bệnh cũng thường tái phát. Các loại thuốc ức chế miễn dịch cổ điển dùng để điều trị vẩy nến chỉ có hiệu quả tương đối trong việc kiểm soát bệnh vẩy nến ở một mức độ nhất định, nhưng mà có bất lợi là có độc tính cao và dễ tái phát sau khi điều trị.

Thế hệ thuốc điều trị mới tập trung chủ yếu vào mục tiêu chuyên biệt trong phản ứng miễn dịch qua trung gian tế bào và loại thuốc sinh học này có ít phản ứng phụ. Đây là một hướng mới trong việc điều trị, khống chế bệnh vẩy nến.
 
Trà Mi: Chúng tôi xin chân thành cảm ơn thời gian cũng như những thông tin rất bổ ích mà Bác sĩ dành cho chương trình Sức khỏe và Đời sống kỳ này.
 
Chương trình Sức Khoẻ và Đời Sống tuần này xin dừng lại tại đây. Hẹn tái ngộ cùng quý vị  và các bạn sáng Thứ Năm tuần sau.
 



Ý kiến (0)

Xem tất cả ý kiến.

Nhận xét

Bạn có thể đưa ý kiến của mình vào khung phía dưới. Ý kiến của Bạn sẽ được xem xét trước khi đưa lên trang web, phù hợp với Nguyên tắc sử dụng của RFA. Ý kiến của Bạn sẽ không xuất hiện ngay lập tức. RFA không chịu trách nhiệm về nội dung các ý kiến. Hãy vui lòng tôn trọng các quan điểm khác biệt cũng như căn cứ vào các dữ kiện của vấn đề.

Xem toàn trang