Chuyên gia nhận định khác nhau về vấn đề nhân quyền trong việc phương Tây bán vũ khí cho Việt Nam

RFA
2022.12.08
Share on WhatsApp
Share on WhatsApp
Chuyên gia nhận định khác nhau về vấn đề nhân quyền trong việc phương Tây bán vũ khí cho Việt Nam Lính Việt Nam đứng cạnh các tên lửa được trưng bày tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế 2022 ở Hà Nội hôm 8/12/2022
AFP

Vấn đề nhân quyền ở quốc gia độc đảng ít có ảnh hưởng đến kế hoạch mua vũ khí của Việt Nam từ Hoa Kỳ và nhiều nước phương Tây, theo học giả Hoàng Việt từ Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên Giáo sư Carl Thayer từ Học viện Quốc phòng Úc lại cho rằng Mỹ và Liên Âu có thể dừng việc bán vũ khí khi cân nhắc vấn đề quyền con người.

Ý muốn tăng cường mua sắm vũ khí từ phương Tây nằm trong kế hoạch đa dạng hoá và hiện đại hoá quân đội của Việt Nam trong bối cảnh chủ quyền đất nước ở Biển Đông bị đe doạ.

Trong lễ khai mạc Triển lãm Quốc phòng quốc tế 2022 ở Hà Nội sáng 08/12, Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính nói sự kiện này giúp Hà Nội “mở ra các cơ hội hợp tác, cùng tìm hiểu nghiên cứu xu hướng phát triển của trang bị kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng an ninh trên thế giới; đa dạng hóa các kênh mua sắm, tiếp nhận chuyển giao công nghệ của nước ngoài và sản xuất, trang bị khí tài, hậu cần đáp ứng cho lực lượng vũ trang để phục vụ nhu cầu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân trước những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống.”

Nói về sự liên hệ giữa việc mua sắm vũ khí và nhân quyền của Việt Nam, thạc sỹ Hoàng Việt nói với Đài Á Châu Tự Do:

Cá nhân tôi cho rằng vấn đề nhân quyền không cản trở nhiều đến việc mua bán vũ khí của Việt Nam. Mỹ và phương Tây đặt lợi ích địa chính trị quan trọng hơn vấn đề nhân quyền. Do vậy, trong bối cảnh đó, việc Việt Nam tìm kiếm mua vũ khí từ phương Tây sẽ không bị cản trở vì vấn đề nhân quyền.”

Ông cho rằng mặc dù đảng Dân chủ của Tổng thống Joe Biden luôn thúc đẩy các hoạt động dân chủ, nhưng Nhà Trắng đã coi Trung Quốc là đối thủ quan trọng nhất, nguy hiểm nhất có thể thách thức vị trí siêu cường số một thế giới của Hoa Kỳ cũng như tìm cách thay đổi trật tự thế giới mà Bắc Kinh có đủ ý chí và quyền lực để làm việc đó thì phương Tây không đặt nặng vấn đề nhân quyền.

Việt Nam bị Hoa Kỳ và nhiều quốc gia dân chủ chỉ trích về hồ sơ nhân quyền tồi tệ vì giam giữ nhiều tù nhân lương tâm chỉ vì họ thực hiện các quyền tự do cơ bản như ngôn luận, hội họp, biểu tình…

Theo thạc sỹ Hoàng Việt, cách đây hơn 10 năm người ta nhận ra rằng quân đội Việt Nam quá phụ thuộc vào vũ khí của Nga và Nhà nước Việt Nam có kế hoạch đa dạng hoá nguồn vũ khí từ lâu. 

Cho tới nay, ngoài Nga, Việt Nam đã mua vũ khí từ một số quốc gia khác, trong đó có Ấn Độ, Israel, và Hoa Kỳ.

Kể từ đó đến nay Việt Nam đã làm (tăng cường mua sắm vũ khí phương Tây- PV), đặc biệt sau cuộc chiến ở Ukraine người ta thấy rằng vũ khí của Nga có nhiều lạc hậu,” học giả đến từ TP HCM nói.

Tuy nhiên, theo ông, kế hoạch đẩy mạnh mua sắm vũ khí của Việt Nam từ các quốc gia phương Tây sẽ không dễ dàng vì hai vấn đề chính: Giá cả đắt đỏ và khác biệt về hệ thống vũ khí.

Ông nói rằng vũ khí của phương Tây đắt hơn nhiều so với vũ khí của Nga, khách hàng cung cấp vũ khí lớn nhất và quen thuộc với Việt Nam từ nhiều thập niên qua.

Quân đội Việt Nam từ lâu đã sử dụng hệ thống vũ khí có từ thời Liên Xô và sau đó là Nga, do vậy, việc thay thế các loại vũ khí hiện có bằng vũ khí của phương Tây sẽ không hề dễ dàng cho Việt Nam. Việc này đòi hỏi có thời gian dài để quân đội đào tạo và thích ứng, và cần phải có sự tương thích của các loại vũ khí trong một hệ thống.

Ông ví dụ trong cuộc chiến ở Ukraine, các binh sỹ Ukraine có thể sử dụng dễ dàng vũ khí do Nga và các nước từng theo xã hội chủ nghĩa sản xuất. Tuy nhiên, họ gặp khó khăn khi sử dụng vũ khí của phương Tây, và cần thời gian dài để thích nghi.

Giáo sư Carl Thayer của Học viện Quốc phòng Úc ở Canberra cho rằng Việt Nam đã cho thấy họ có khả năng mua sắm vũ khí và công nghệ quân sự từ các nguồn không phải của Nga, chẳng hạn như Israel, Hàn Quốc và Hoa Kỳ.

Ông cũng nói Hà Nội nhận thức được rằng Hoa Kỳ và các quốc gia trong Liên minh Châu Âu có thể viện dẫn các cân nhắc về nhân quyền để cắt giảm hoặc ngăn chặn việc bán vũ khí nhằm đối phó với các hành vi vi phạm nhân quyền nghiêm trọng vào bất kỳ thời điểm nào.

Tuy nhiên, từ thống kê mua vũ khí của Việt Nam trong thời gian gần đây thì Giáo sư Carl Thayer có nhận xét:

Việt Nam không có khả năng mua các mặt hàng có giá trị lớntừ Hoa Kỳ hay Châu Âu và có khả năng chờ xem cuộc xung đột ở Ukraine sẽ được giải quyết như thế nào.

Tuy nhiên, Việt Nam sẽ có thị trường cho các công nghệ thích hợp như radar bờ biển, phòng không, máy bay không người lái (UAV), tên lửa chống UAV, không gian mạng, ...” 

Ông cho biết trong giai đoạn từ 2014- thời điểm Nga sáp nhập Crimea, cho đến 2021, việc mua sắm vũ khí của Việt Nam giảm chóng mặt, đặc biệt là từ Nga.

Nhập khẩu vũ khí từ Nga của Việt Nam đã giảm từ 1,056 tỷ đô la Mỹ năm 2014 xuống chỉ còn 72 triệu năm 2021, ông nói. 

Giáo sư Carl Thayer nói trước đại dịch COVID-19, Việt Nam phân bổ khoảng 2% GDP cho ngân sách quốc phòng hàng năm.

Từ năm 1995 đến năm 2021, Việt Nam đã mua vũ khí và công nghệ quân sự từ 27 quốc gia. Sáu quốc gia hàng đầu, tính bằng đô la Mỹ là: Nga ($7,4 tỷ), Israel ($550 triệu), Ukraine ($273  triệu), Belarus ($263 triệu), Hàn Quốc ($120 triệu) và Hoa Kỳ ($108 triệu).

Trong triển lãm vũ khí quốc tế lần đầu tiên được tổ chức ở Việt Nam, giáo sư Carl Thayer cho rằng Hà Nội có ba mục tiêu chính, đó là giới thiệu ngành công nghiệp quốc phòng của mình, xác định khách hàng cho các sản phẩm nội địa của mình, và tham gia vào các thỏa thuận chuyển giao công nghệ đồng sản xuất để thúc đẩy ngành công nghiệp quốc phòng của mình.

Nhận xét

Bạn có thể đưa ý kiến của mình vào khung phía dưới. Ý kiến của Bạn sẽ được xem xét trước khi đưa lên trang web, phù hợp với Nguyên tắc sử dụng của RFA. Ý kiến của Bạn sẽ không xuất hiện ngay lập tức. RFA không chịu trách nhiệm về nội dung các ý kiến. Hãy vui lòng tôn trọng các quan điểm khác biệt cũng như căn cứ vào các dữ kiện của vấn đề.

Nhận xét

cậu Ba.
09/12/2022 01:36

Nhân quyền và thị trường quốc tế về vũ khí sát thương.

Theo Amnesty International thị trường mua bán vũ khí thế giới có giá trị 400 tỉ đô la (năm 2020). Mỹ và Nga đứng đầu, lần lượt 39% và 19% thị phần. Sau đó là các quốc gia Pháp, TQ, Đức… Các quốc gia này chiếm tổng cộng 75% thị trường thế giới.

Đứng đầu các quốc gia mua vũ khí là Ấn độ, với 11% thị phần thế giới. Sau đó Ả rập (Arabie saoudite) 11%, Ai cập 5,7%, Úc 5% và TQ 4,8%...

Mỹ bán vũ khí cho các quốc gia đồng minh truyền thống gồm Ả rập (23%), Úc (9,4%) và Nam Hàn (6,9%). Tương tự Nga bán vũ khí cho Ấn độ (28%), TQ (21%). Ai cập (13%). TQ cũng vậy, bán cho đồng minh truyền thống Pakistan (43%), Bangladesh (16%) và đặc biệt Thái lan (5%) vào những năm gần đây.

Thương mại quốc tế về vũ khí được điều hòa (và giới hạn) bởi Công ước 2014 của LHQ, bao gồm các điều ước nền tảng như: Bắt buộc phải tôn trọng luật quốc tế về nhân đạo (Công ước Genève 1949), về nhân quyền, đúng theo Điều 3 của Hiến chương LHQ và Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền.

Việc buôn bán vũ khí giới hạn ở các loại vũ khí cổ điển (hay qui ước), gồm các loại vũ khí (dùng để chiến đấu) như chiến xa, xe bọc thép, các hệ thống đại pháo, phi cơ chiến đấu, chiến hạm, hỏa tiễn và các giàn phóng v.v...

Hầu hết các quốc gia EU là thành viên Công ước 2014 của LHQ về buôn bán vũ khí (tức là các quốc gia có ký nhận và thông qua công nước). Mỹ chỉ ký nhận nhưng không thông qua. TQ và Nga không ký nhận (dĩ nhiên không thông qua) công ước này.

Việc mua bán vũ khí giữa các quốc gia tùy thuộc, dĩ nhiên vào nội dung Công ước LHQ 2014, nhân quyền là cốt lõi, nhưng cũng tùy thuộc vào chính sách của quốc gia.

Mỹ bán vũ khí cho Ả rập Xê út, một quốc gia nổi tiếng vi phạm nhân quyền. Vấn đề là các thứ vũ khí mà Mỹ bán cho nước này không giúp cho nước này đàn áp nhân quyền.

Trong khi Nhật đã có lần trợ giúp phương tiện vũ trang và tài chánh cho công an VN. Vụ này Nhật bị Human Rights Watch cảnh cáo “giúp công an VN đàn áp nhân quyền”. Nhật là thành viên Công ước LHQ 2014.

Mỹ cũng bán vũ khí cho Đài loan trong khi Mỹ nhìn nhận nguyên tắc “quốc gia duy nhứt”, Đài loan là một phần lãnh thổ của TQ. Vũ khí của Mỹ bán cho Đài loan thông qua những đạo luật nội địa của Mỹ. Luật của Mỹ dĩ nhiên phải “lách”, sao cho phù hợp với nội dung những Hiến chương, những Công ước mà Mỹ đã cam kết trước quốc tế. Do đó Mỹ chỉ giới hạn bán vũ khí cho Đài loan nhằm mục đích “tự vệ”, với mục tiêu “giữ nguyên trạng” hai bờ eo biển Formosa. Quyền tự vệ chính đáng là nền tảng cốt lõi của Hiến chương LHQ.

VN trước nay mua vũ khí của Nga, thương số khoảng 1 tỉ đô/năm. Mỹ cũng bãi bỏ lịnh cấm vận “vũ khí sát thương” áp đặt lên VN sau 4 thập niên năm 2016. Tuy nhiên cho đến nay VN dường như vẫn không mua được vũ khí của Mỹ, mặc dầu áp lực của TQ lên Biển Đông ngày càng gia tăng. VN chỉ mua vũ khí của các đồng minh thân cận bao gồm Nga, TQ và Ấn độ. Đây là các quốc gia có quan hệ “đối tác chiến lược toàn diện” với VN.

Báo chí loan tin VN lâm vào thế “lưỡng nan”, vì nguồn cung cấp từ Nga cho thấy sẽ gặp “khó”. Sản xuất của Nga không đủ cung ứng cho chiến tranh tại Ukraine.

VN vừa ký nhiều hiệp ước với Nam Hàn trong những ngày vừa qua, nhân dịp hai bên VN-Nam hàn nâng quan hệ lên thành “đối tác chiến lược toàn diện”.

Khoa học kỹ thuật về quốc phòng của Nam Hàn những năm gần đây cho thấy có những tiến bộ vượt mực. Năm 2000 Nam Hàn đứng hàng thứ 31 về xuất khẩu vũ khí. Năm nay Nam Hàn lên hạng thứ 8 trên thế giới. Theo RFI :

“Năm 2022 trở thành năm thành công nhất của ngành công nghiệp quốc phòng Hàn Quốc, đặc biệt với hợp đồng vũ khí trị giá gần 14 tỉ đô la ký với Ba Lan, gồm 48 chiến đấu cơ FA-50 của tập đoàn Korea Aerospace Industries (KAI), vài trăm xe tăng K2 của tập đoàn Hyundai Rotem và súng cối tự hành K9 của công ty Hanwha Defense. Trước đó, cũng trong năm 2022, Seoul đã giao hệ thống phòng không Cheongung cho Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất trị giá 3,6 tỉ đô la, cung cấp súng cối K9 cho Ai Cập theo hợp đồng trị giá 1,7 tỉ đô la. Quốc gia này sản xuất phi cơ chiến đấu, tàu chiến, hệ thống hỏa tiễn và phòng không…”

VN rất có thể sẽ trở thành “bạn hàng lớn” mua vũ khí của Nam Hàn, để bù đắp thiếu sót nguồn cung, nhưng chắc chắn Nam Hàn không thể thay Mỹ.

Trao đổi kinh tế giữa TQ và Nam Hàn rất lớn, đến đỗi hệ thống phòng thủ chiến lược THAAD của Mỹ vẫn chưa được đặt trên đất nước này. Bất kể đe dọa hạt nhân từ Bắc Hàn. Theo RFI dẫn từ Yonhap News : thương mại Hàn - Trung đã tăng từ 6,3 tỉ đô la vào năm 1992 lên tới 300 tỉ đô la. Tính đến năm 2021, xuất khẩu sang Trung Quốc là 162,9 tỷ đô la, nhập khẩu 138,6 tỷ đô la, thặng dư thương mại khoảng hơn 30 tỉ đô la, bất chấp dịch Covid-19 bùng phát.

Nam Hàn, vì lợi ích với TQ, có thể trở áo với VN bất kỳ lúc nào.

Chiến trường Ukraine cho thấy sự ưu việt của vũ khí Mỹ (và một phần của Tây phương) trước vũ khí của Nga.

Mỹ trở thành nguồn cung cấp vũ khí lý tưởng cho VN ở mục tiêu phòng vệ. VN có đủ tiêu chuẩn địa chiến lược để trở thành một cường quốc trung bình. Bế tắc là VN vẫn không gỡ bỏ mặc cảm tâm lý và cái nhìn lịch sử để nâng cấp quan hệ với Mỹ lên đối tác cùng thứ bậc với TQ và Nga.

Người Mỹ thực tế trong chiến lược và tương đối trong vấn đề nhân quyền. Còn VN đặt nặng về chế độ và ý thức hệ chính trị.

Vì Chánh nghĩa Quốc gia
12/12/2022 03:46

"...Hiện đại hoá quân đội của Việt Nam trong bối cảnh chủ quyền đất nước ở Biển Đông bị đe doạ." là tạo thêm một đối thủ cộng sản đầy tham vọng trong tiềm thức (Hậu Trung cộng) tại Đông Nam Á. Vấn đề Biển đông là vấn đề chung của các Quốc gia Đông Nam Á không phải của riêng Việt nam cho nên hiện đại hóa cho quân lực cộng sản Việt nam là tăng thêm nguy cơ Đỏ tại Đông Nam Á nếu Việt nam là tay trong của Trung cộng hoặc là mối đe dọa ngầm hậu Trung cộng (nếu Liên hiệp quốc Đông Nam Á và Hoa kỳ thật sự đánh bại Trung cộng tại biển đông).
Please need consider carefully !