Gian nan hành trình học chữ của người thiểu số

Hòa Ái, phóng viên RFA
2014-09-22
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này
Hai đứa trẻ dân tộc Hmong tại một ngôi làng ở huyện miền núi Mù Cang Chải, tỉnh Tây Bắc
Hai đứa trẻ dân tộc Hmong tại một ngôi làng ở huyện miền núi Mù Cang Chải, tỉnh Tây Bắc
AFP photo

 

Ngành giáo dục ở VN ngày càng quan tâm và chú trọng đến những vùng xa xôi, hẻo lánh để tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập, nâng cao kiến thức của những người ở độ tuổi đến trường, đặc biệt đối với người thiểu số.

Hội thảo Phổ biến kết quả nghiên cứu trẻ em ngoài nhà trường của VN do Bộ Giáo dục Đào tạo (GDĐT) vừa tổ chức trong tháng 9, công bố con số 1.127.345 trẻ em từ 5 đến 14 tuổi chưa từng đi học, bỏ học hoặc có nguy cơ bỏ học.

PGS-TS Lê Khánh Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch tài chính của Bộ GDĐT cho biết trong số hơn 1 triệu trẻ em này, đa phần thuộc thành phần nghèo khó, sống ở các khu vực xa xôi, hẻo lánh, là trẻ em dân tộc thiểu số, khuyết tật, trẻ phải lao động, trẻ em di cư…Tỷ lệ trẻ em dân tộc thiểu số chưa bao giờ đi học khá cao. Trong đó, dân tộc H’Mông chiếm tỷ lệ cao nhất, 23,02%. Nghèo đói và hủ tục là các nguyên nhân chính cản trở việc tiếp cận trường học của trẻ em thiểu số được TS Nguyễn Phong, chuyên gia tư vấn của nghiên cứu này, nêu ra.

Trao đổi với một số gia đình người thiểu số dân tộc Hà Lăng, ở xã Rờ Kơi, huyện Sa Thầy, thuộc vùng sâu-vùng xa của tỉnh Kon Tum, đài RFA được cho biết rằng người dân địa phương rất vui mừng khi thấy trường học được dựng lên. Dù cách xa đến 2-3 cây số, họ vẫn cho con đi học vì họ mong rằng con cái của họ biết được mặt “cái chữ”, biết tính được “con số”, không như thế hệ của họ chỉ biết ruộng nương mà thôi. Thế nhưng, ước mơ đó lại không hề dễ dàng như họ tưởng. Vì sao lại như thế, một phụ huynh chia sẻ:

“Bây giờ gia đình nào họ cũng muốn cho con được đến trường đi học nhưng có vấn đề là không còn như trước. Bây giờ tự túc hết cho nên nhiều địa phương, không giống anh em người Kinh, rất khó khăn, thiếu thốn đủ mọi bề. Chính vì lý do đó nên các em nhỏ không được đến trường vì từ sách vở rồi đóng tiền cho nhà trường và này khác… nên anh em địa phương không có đủ điều kiện cho con đến trường được”.

Tại buổi Hội thảo Phổ biến kết quả nghiên cứu trẻ em ngoài nhà trường của VN, Thứ trưởng Bộ GDĐT Nguyễn Vinh Hiển tuyên bố qua số liệu công bố sẽ thúc đẩy ngành giáo dục tìm ra phương pháp tiếp cận mới trong xây dựng chính sách giáo dục, thay đổi chiến lược “đưa trẻ em đến trường” thành “đưa trường đến trẻ em”. Chiến lược mới sẽ được triển khai cụ thể như thế nào và khi nào được triển khai? Có lẽ hơn ai hết, nhiều trẻ em, đặc biệt là trẻ em dân tộc thiểu số đang nóng lòng chờ đợi.

Cũng là sự chờ đợi nhưng mỏi mòn và tuyệt vọng hơn, đó là sự chờ đợi cơ hội tìm được công ăn việc làm của các cử nhân dân tộc thiểu số tốt nghiệp đại học. Những người trẻ này đã phải nỗ lực bội phần để vượt qua muôn vàn khó khăn mới vào được đại học, tốt nghiệp ra trường. Họ là những tân cử nhân của các trường đại học uy tín như Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Sư Phạm, Đại học Nông Lâm…với ước mơ có cuộc sống ổn định và đóng góp cho cộng đồng.

Có rất nhiều sinh viên khi họ vào trường đại học, họ được vay một số khoản tiền nhất định nhưng khi ra trường họ không có tiền để trả, có khi nợ kéo dài 4-5 năm sau cũng chưa trả nổi.
- Nhà thơ Inrasara

Tìm hiểu vì sao uớc mơ thiết thực ấy lại trở nên viễn vông? Hòa Ái được nhà thơ Inrasara, dân tộc Chăm, cho biết nhiều bạn trẻ người Chăm bị thất nghiệp sau khi ra trường. Nhiều người phải làm các công việc như phụ hồ, hái cà phê, lượm điều hoặc làm các lao động chân tay khác không phù hợp với chuyên ngành được đào tạo. Phần lớn các cử nhân người Chăm lại phải trở về làm nghề nông trên mảnh ruộng nhỏ bé của mình. Nhà thơ Inrasara nói:

“Nhiều người trở lại nghề nông hoặc là thất nghiệp gần như toàn phần. Có rất nhiều sinh viên khi họ vào trường đại học, họ được vay một số khoản tiền nhất định nhưng khi ra trường họ không có tiền để trả, có khi nợ kéo dài 4-5 năm sau cũng chưa trả nổi. Đó là một nguy cơ rất lớn đối với các em dân tộc thiểu số đã tốt nghiệp đại học, nhất là người Chăm”.

Dân tộc Chăm tập trung ở 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, không giống như những dân tộc thiểu số khác ở miền núi cao mà họ ở đồng bằng, hòa lẫn với người Kinh nên cuộc sống hàng ngày được tiếp xúc với thế giới văn minh. Các bạn trẻ người Chăm gần như không có mặc cảm trong việc học tập và trình độ học ở phổ thông hay đại học của họ cũng không thua kém gì với đa số bạn học người Kinh. Dù rất tự tin khi cầm tấm bằng tốt nghiệp đại học trên tay nhưng họ phải chấp nhận thất nghiệp như một sự an bày.

Nhà thơ Inrasara cho biết tình hình chung ở VN hiện có nhiều sinh viên ra trường không có việc làm và riêng đối với dân tộc thiểu số ngày nay dường như không còn có sự ưu tiên nào. Tuy nhiên, đây không phải là nguyên nhân chính khiến cho các cử nhân dân tộc thiểu số bị lâm vào cảnh bế tắc. Ông nói:

“Thất nghiệp vì lý do thứ nhất, là vì không phải họ tuyển những người đã tốt nghiệp mà họ đã tuyển rồi mới cử người để đưa đi thi và học. Tức là quan hệ quen biết là chính mà người dân tộc thiểu số nói chung quen biết rất ít. Thứ hai nữa còn vấn đề rất tiêu cực ở VN là phải chạy vạy, gọi là “văn hóa chạy”. “Chạy” thì phải có tiền. Điều này thực tế ai cũng biết vì xảy ra hàng ngày, gây bức xúc cho đồng bào, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng cũng như những người nghèo nói chung. Khi ra trường, họ không có đủ khoản nhất định để có thể gọi là “chạy chổ”, “chạy ghế”, “chạy” một nơi nào đó để làm việc”.

Không một số liệu nào ghi nhận có bao nhiêu em nhỏ trong tổng số hơn 1 triệu trẻ em không được đến trường có ước mơ cắp sách đi học và có bao nhiêu em nhỏ hàng ngày phải chứng kiến cảnh sống thất vọng, chán nản vì thất nghiệp của các anh chị mình nhưng hệ lụy tương lai về nạn thất học chắc chắn là rất lớn, bởi vì câu hỏi “học để làm gì” đã có lời đáp, nhất là thắc mắc của các em nhỏ dân tộc thiểu số.

Trong khi Bộ GDĐT loay hoay tìm giải pháp cho “đầu vào” lẫn “đầu ra”, đặc biệt đối với người thiểu số, thì hành trình học chữ của họ vẫn còn lắm gian nan.

Xem toàn trang