Ảo giác của BRIC

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2013-09-11
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này
Từ trái sang: Chủ tịch Luiz Inacio Lula da Silva của Brazil, Nga Dmitry Medvedev của Nga, Hồ Cẩm Đào của Trung Quốc, và Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh bắt tay tại Yekaterinburg, Nga hôm 16/6/2009, trước một cuộc họp của BRIC.
Từ trái sang: Chủ tịch Luiz Inacio Lula da Silva của Brazil, Nga Dmitry Medvedev của Nga, Hồ Cẩm Đào của Trung Quốc, và Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh bắt tay tại Yekaterinburg, Nga hôm 16/6/2009, trước một cuộc họp của BRIC.
AFP photo

 

Cách nay năm năm, vụ khủng hoảng tài chính bùng nổ từ Hoa Kỳ dẫn tới nạn Tổng suy trầm với mức độ trầm trọng chưa từng thấy kể từ vụ Tổng khủng hoảng 80 năm trước. Điều không ngờ là năm năm sau, các nền kinh tế suy sụp nhất trong khối công nghiệp hóa đều có nền móng tương đối lành mạnh hơn, và các thị trường gọi là đang lên, điển hình là nhóm BRIC là Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, lại gặp bất ổn nặng. Vì sao lại như vậy và người ta học được gì từ những kinh nghiệm đó? Diễn đàn Kinh tế tìm giải đáp cho các câu hỏi đó qua phần trao đổi với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, đúng năm năm trước, vụ khủng hoảng tài chính bùng nổ ngày 15 Tháng Chín với sự sụp đổ của ngân hàng đầu tư Lehman Brothers và nhiều tập đoàn tài chính lớn nhất tại Hoa Kỳ đã gây ra nạn Tổng suy trầm trong hai năm liền. Khi ấy, các nền kinh tế công nghiệp hóa Âu-Mỹ đều co cụm và thế giới đặt nhiều triển vọng vào sức đẩy của các thị trường ta gọi là đang lên, điển hình là nhóm BRIC là bốn nước Brazil, Liên bang Nga, Ấn Độ và Trung Quốc. Năm năm sau, khi cần tổng kết lại bài học của khủng hoảng và dự báo về bất ổn trước mắt, người ta lại thấy một điều trái ngược. Đó là những bất ổn trong nhóm BRIC. Do đó, tiết mục chuyên đề kỳ của chúng ta sẽ tìm hiểu về các nguyên nhân gần xa của hai trạng thái rõ ràng là trái ngược. Ông nghĩ sao về đề tài này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Đây là một câu hỏi lý thú vì giúp chúng ta nhìn ra sự chủ quan trong chính sách đối phó với những chấn động kinh tế, mà điển hình chính là kỳ họp thượng đỉnh tuần qua của nhóm G-20 tại thành phố St. Petersburg của Liên bang Nga.

Năm năm trước, cơn chấn động bùng nổ tại Hoa Kỳ và Âu Châu rồi lan ra toàn cầu khiến lãnh đạo của 20 nền kinh tế mạnh nhất địa cầu là nhóm G-20 có sáng kiến hội họp hàng năm để cùng kiểm điểm và tìm biện pháp phối hợp. Chi tiết ấy đáng chú ý vì trước đây, nhóm G-7 của bảy nền kinh tế Âu-Mỹ-Nhật vẫn họp riêng và quyết định về các vấn đề kinh tế tài chính của thế giới, bây giờ, người ta muốn có cơ chế rộng mở để bao gồm cả các nền kinh tế đang lên. Thế rồi tại thượng đỉnh thứ năm của nhóm G-20 vào tuần qua ở bên Nga, lãnh đạo các nước lại ít cơ hội thảo luận sâu xa hơn về chuyện kinh tế và về những bất ổn trước mắt vì giành thời gian cho vụ khủng hoảng tại Syria. Trong khi ấy, trước khi vào thượng đỉnh này thì nhóm G-20 đã được Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF cảnh báo về những bất ổn trước mắt của các nền kinh tế đang lên, nhất là của nhóm BRIC mà ông vừa nhắc tới. Vì vậy, chúng ta nhớ lại là trước tập đoàn Lehman tan rã tại Mỹ thì mầm khủng hoảng đã manh nha từ cả năm trước mà ít ai chú ý...

Bài học chính ở đây là phải thận trọng hơn khi vay mượn và đầu tư, chứ không hẳn là phải tăng cường vai trò can thiệp và bao cấp của nhà nước.
- Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Như vậy, chúng ta đi lại từ đầu, từ vụ khủng hoảng trong khối công nghiệp hoá bùng nổ năm 2008, rồi tìm hiểu xem là các nền kinh tế đang lên có thể bị biến động như thế nào. Về vụ khủng hoảng năm năm trước thì trong thời gian qua, người ta đã nghiên cứu và tổng hợp được nhiều cách lý giải, nhưng thính giả của chúng ta vẫn cần ông nhắc lại ở đây.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ là các nhà nghiên cứu đã viết ra cả trăm cuốn sách về nguyên do của khủng hoảng mà mình chỉ có thể tóm lược như sau. Cái "duyên" của cơn chấn động là nạn bể bóng đầu tư trên thị trường địa ốc sau năm năm tăng trưởng quá mạnh từ 2002 đến 2006. Khi bóng bể thì sự suy sụp của thị trường gia cư loại thứ cấp hay "subprime" mới dội vào hệ thống tài chính và ngân hàng. Hệ thống này đã có cái "nhân" của khủng hoảng, là những nguyên nhân bất ổn tiềm ẩn từ rất lâu.

Đó là thứ nhất, việc chủ quan vay mượn quá nhiều, thứ hai, việc giải phóng chế độ kiểm soát từ năm 1999, thứ ba nhiều phát minh quá mới trong kỹ thuật đầu tư tài chính mà người ta không ước lượng được mức rủi ro cho chính xác, thứ tư là số tiết kiệm quá lớn của Á châu trút về Hoa Kỳ làm giảm lãi suất và tạo ra nhiều cơ hội quá tốt đẹp nên gây ra phản ứng chủ quan bất cẩn trong đầu tư. Khi kinh tế bắt đầu suy trầm và trái bóng gia cư bị bể thì khủng hoảng tài chính dẫn tới nạn ách tắc tín dụng, các cơ sở đầu tư thiếu thanh khoản bị sụp đổ mới gây hốt hoảng làm khủng hoảng kinh tế lan rộng và dẫn tới bài toán chính trị là nhà nước phải đối phó ra sao, có nên cấp cứu hay không, rồi làm sao kích thích kinh tế?

Trong một chuỗi dài nhiều nguyên nhân chòng chéo, bùng nổ vì một số thất quân bình nhất thời và thật ra chẳng có gì là bất thường – như một chu kỳ suy trầm hay một nạn bể bóng đầu tư – các nước lâm nạn đã phải tìm giải pháp và nói chung thì có thi hành nhiều biện pháp chấn chỉnh. Sau giai đoạn suy trầm thì các nước công nghiệp hóa đã phục hồi trên một nền móng lành mạnh hơn. Ngoại lệ và còn bất ổn thì có các nước Âu Châu, nhất là Pháp, chứ Hoa Kỳ và cả Nhật Bản thì đã khá hơn năm năm về trước. Ngày nay, đáng quan tâm nhất chính là các nền kinh tế đang lên.

Vũ Hoàng: Trước khi bước qua phần đó, xin ông trình bày cho thính giả của chúng ta là các nước lâm nạn đã cải cách những gì để vượt qua giai đoạn khó khăn đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trước hết là đã có vay thì có trả nên các nước mắc nợ phải qua giai đoạn trả nợ và điều ấy cũng khiến kinh tế hồi phục mà chưa mạnh như sau các chu kỳ suy trầm trước đây. Thứ hai là vì khủng hoảng bùng nổ từ khu vực ngân hàng, hệ thống ngân hàng của họ được kiểm soát chặt chẽ hơn và minh bạch hơn, và nhất là phải nâng tiêu chuẩn an toàn theo quy ước Basel của quốc tế, nôm na là phải xóa nợ xấu và tăng vốn. Trong ba khối Âu-Mỹ-Nhật thì Hoa Kỳ cải thiện mạnh nhất và sau những tranh luận chính trị kéo dài thì nạn bội chi ngân sách cũng giảm mạnh. Bài học chính ở đây là phải thận trọng hơn khi vay mượn và đầu tư, chứ không hẳn là phải tăng cường vai trò can thiệp và bao cấp của nhà nước. Nói cách khác, tư bản chủ nghĩa vẫn tồn tại và có thể cải tiến chứ không tiêu vong như nhiều người đã lầm tưởng.

Chính trị và kinh tế

000_DV531820-250.jpg

Vũ Hoàng: Bây giờ ta mới bước qua bên kia lằn ranh. Khi vụ khủng hoảng bùng nổ trong khối công nghiệp hóa, người ta đặt nhiều kỳ vọng vào các nước đang lên hay các nền kinh tế ông gọi là "tân hưng". Phải chăng kỳ vọng đó lại là ảo vọng khi nhóm BRIC lại gặp nhiều vấn đề nhất?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng đúng như vậy, nhưng trong nhóm này mỗi quốc gia lại gặp một loại vấn đề khác mà tổng hợp lại thì mình có thể rút tỉa được nhiều bài học cho Việt Nam.

Trong nhóm bốn quốc gia này, chỉ có hai nước là có nền dân chủ, là Brazil và Ấn Độ nhưng với cơ chế và lãnh đạo yếu kém nên dù là người dân có quyền đi bầu thì cũng chưa tìm ra giải pháp thoả đáng và thật ra vẫn bị nạn tham nhũng. Hai nước độc tài còn lại là Nga và Ấn Độ thì đã định chế hóa nạn tham nhũng và khó tìm ra lối thoát. Việc lãnh đạo mới của Trung Quốc tung chiến dịch bài trừ tham nhũng chỉ là mặt nổi của những tranh chấp chính trị mở ảo sau hậu trường. Chế độ của Tổng thống Vladimir Putin cũng đang đối mặt với khủng hoảng chính trị bên trong và điều ấy càng khiến xứ này khó cải cách hơn. Yếu tố chính trị đó rất đáng quan tâm vì chi phối chính sách đối phó của bốn nước này.

Một thí dụ rất thời sự là lãnh đạo Úc cũng đã có chủ quan sai lầm trong năm năm qua khi để kinh tế quá lệ thuộc vào việc xuất khẩu nguyên vật liệu cho Trung Quốc và vào vai trò bao cấp của nhà nước, còn khoả lấp vấn đề kinh tế đằng sau chiến lược chống lại hiện tượng nhiệt hóa địa cầu. Kết quả là đảng đối lập đã thắng cử để sẽ tìm ra ngả khác.

Vũ Hoàng: Ông nêu bài học trước tiên cho nhóm BRIC này là chính trị và chính sách kinh tế. Còn các bài học thuần về kinh tế thì sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thuần về kinh tế, trong nhóm BRIC chỉ có một nước xuất khẩu nguyên nhiên vật liệu và chẳng biết làm gì hơn, là Liên bang Nga. Xứ này từng được giới đầu tư quốc tế ca tụng là nơi có triển vọng hơn cả mà sau cùng lại gây thất vọng. Nga cần cải tiến công nghệ năng lượng và tư nhân hóa hệ thống doanh nghiệp để tiếp nhận được tư bản và kỹ thuật mới mà lại không cải tổ hệ thống pháp lý và bị các nhóm lợi ích cản trở. Khi công nghệ năng lượng của các nước Âu-Mỹ đã làm thay đổi cả nền tảng của thị trường dầu khí, Nga chỉ là một nước bán dầu loại chậm tiến và sẽ còn tụt hậu về kinh tế. Đây là tấm gương mà Việt Nam không nên học.

Thuần về kinh tế, trong nhóm BRIC chỉ có một nước xuất khẩu nguyên nhiên vật liệu và chẳng biết làm gì hơn, là Liên bang Nga.
- Nguyễn-Xuân Nghĩa

Trong nhóm BRIC, dẫn đầu với cái đèn đỏ là Brazil vì các chính quyền nối tiếp của cả hai phe tả hữu lẫn tướng lãnh đều có chung một chủ trương là bảo hộ mậu dịch để bảo vệ quyền lợi thiển cận và vì đã có nền móng dân chủ nên còn có xu hướng mị dân là tìm cách tái phân lợi tức. Khi đồng bạc của họ lên giá thì các đại gia nhập khẩu kiếm lời rất lớn mà ít ai chú ý đến hạ tầng cơ sở và thiết bị quá lạc hậu. Bây giờ, tỷ giá đồng bạc sa sút và còn sụt mạnh, xứ này sẽ rất khó xoay trở và còn bị nguy cơ lạm phát rất cao. Người ta đánh giá sai chủ nghĩa ái quốc trong kinh tế và sau khi tổ chức Giải Vộ địch Túc cầu Thế giới vào năm 2014 rồi Thế vận hội mùa Hè vào năm 2016, Brazil sẽ gặp nhiều bẽ bàng, thậm chí động loạn.

Vũ Hoàng: Còn lại trong nhóm này, có hai quốc gia đông dân nhất, là Ấn Độ và Trung Quốc. Thưa ông vì sao tương lai của hai nền kinh tế này lại có nhiều bất trắc sau mấy chục năm cải cách và đạt mức tăng trưởng ngoạn mục?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Ấn Độ là một nước dân chủ đã chuyển hướng từ chế độ bao cấp sang quy luật thị trường từ năm 1991 nên có một số thành tựu. Nhưng về cơ bản, họ chỉ cởi mở đủ cho nạn tham nhũng tung hoành mà không phá vỡ được sự ù lỳ của bộ máy hành chính để giải phóng sức sản xuất của tư nhân. Vì vậy, đà tăng trưởng giảm dần và khi đồng bạc mất giá và sẽ còn mất giá thì tư bản nội địa sẽ chảy ra ngoài, theo sau là đầu tư của quốc tế.

Nhìn cho gần hơn thì khi thế giới bị Tổng suy trầm năm năm trước, Ấn Độ hụt cơ hội cải cách mà lại lạc quan tin vào sức đẩy của tư bản trút vào từ bên ngoài. Sức đẩy này thổi lên bong bóng và sự chủ quan về chính sách gây ra bội chi ngân sách và thiếu hụt cán cân vãng lai. Giờ đây họ đến ngày tính sổ và trong năm nay có thể gặp khủng hoảng như các nước Đông Á đã từng bị năm 1997 nên lại trở về chính sách kiểm soát ngoại hối để mong chặn đà tháo chạy của tư bản.

Vũ Hoàng: Sau cùng là Trung Quốc, cứ được Việt Nam coi là mẫu mực về chiến lược kinh tế và cũng lại có chế độ kiểm soát ngoại hối nên liệu có tránh được nạn tư bản đào thoát hay không?'

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Việt Nam và Trung Quốc đều có chung một vấn đề là gánh nợ quá lớn và quá xấu của hệ thống ngân hàng lẫn vai trò quá tai hại của doanh nghiệp nhà nước. Trong thời gian tới, chế độ kiểm soát ngoại hối vẫn không ngăn được khủng hoảng và vì kiểm soát thiên lệch nên còn dẫn tới nạn tay chân nhà nước tẩu tán tư bản. Vì thời lượng có hạn, chúng ta sẽ phải trở lại chuyện rắc rối này trong một kỳ sau.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nguyễn-Xuân Nghĩa về cuộc trao đổi vừa qua.

Xem toàn trang