Liệu phát triển nuôi trồng thủy sản quy mô công nghiệp tại ĐBSCL có hiệu quả?

RFA
2019-09-23
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này
Khu vực nuôi tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long.(Ảnh minh họa)
Khu vực nuôi tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long.(Ảnh minh họa)
AFP

Ông Nguyễn Văn Tâm giám đốc sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang cho biết, tỉnh có kế hoạch riêng cho các khu vực vực nuôi trồng thủy sản biển ở các huyện Phú Quốc, Kiên Hải và Kiên Lương, Hà Tiên, Long Xuyên và U Minh Thượng. Việc nuôi trồng các loại thủy sản biển chủ yếu là cá biển kết hợp với dịch vụ thủy sản và du lịch.

Cũng theo ông Tâm hiện nay việc nuôi trồng thủy sản biển của tỉnh này có tiềm năng cao nhưng quy mô nhỏ và cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng đủ điều kiện. Hầu hết các nhà nuôi trồng thủy sản là các hộ dân sử dụng cá nhỏ để nuôi cá biển gây ra nhiều rủi ro và ô nhiễm khiến phát triển không bền vững.

Ngoài ra, tỉnh Kiên Giang còn dự kiến sẽ phát triển nuôi tôm với quy mô công nghiệp trong những năm tới với hơn 12.000 hecta (ha). Nhiều doanh nghiệp thủy sản dự kiến sẽ đầu tư sản xuất hàng loạt với hơn 10.000ha trạng trại, hơn 2000ha khu dân cư cùng với 500ha khu vực để chế biến.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, chuyên gia môi trường và tài nguyên, hiện đang làm việc tại Viện Nghiên Cứu Biến Đổi Khí Hậu của Đại Học Cần Thơ cho rằng, tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) không chỉ riêng tỉnh Kiên Giang mà những vùng sản xuất lúa không đạt hiệu quả nữa do tác động biến đổi khí hậu và tình trạng nước biển dâng nên họ dân chuyển sang mô hình canh tác nuôi trồng thủy sản và đặc biệt là nuôi tôm nước lợ và nước mặn.

Tiến sĩ cho rằng đó là xu thế dần chuyển đổi tại ĐBSCL, tuy nhiên quy mô không hoàn toàn lớn. “…Những cái Kiên Giang nói cũng chỉ là dự kiến thôi chứ chưa thực hiện vì muốn làm cái này đầu tư khá nhiều tiền, như chuyển đổi trồng lúa sang ao nuôi tôm thì kinh phí bỏ ra khá lớn, người nông dân biết kỹ thuật nuôi tôm và các điều kiện khác vì người nuôi tôm mặc dù lợi hơn người trồng lúa rất là nhiều nhưng rủi ro của nó thì cũng rất là lớn. Cái này có chỗ thành công và nơi không nhưng tương lai sẽ chuyển dần sang dạng này nhưng việc chuyển bằng cách nào để bảo đảm môi trường, duy trì sinh kế bền vững cho người nông dân thì đó là bài toán mà các nhà khoa học, quản lý, doanh nghiệp phải làm việc chung với người nông dân để hỗ trợ cho họ....”

Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn nhận định rằng, trong khoảng 5 năm gần đây thì tốc độ nuôi trồng thủy sản tại khu vực ĐBSCL tăng lên một cách đáng kể nhưng đến nay thì tình trạng khai thác ngày một giảm đi nhiều.

“…sinh kế của khu vực ĐBSCL là khai thác cá thì ngày càng giảm, ngay cả trên thượng nguồn việc khai thác cá nước ngọt cũng bị giảm đáng kể, nước sông Mekong về ít hơn nên các công trình tích nước trên thượng nguồn, quá trình thâm canh sản xuất lúa làm cho trữ lượng cá, tôm đều giảm. Ngoài biển phù sa về giảm, biến đổi khí hậu và quan trọng là quá trình đánh bắt của chúng ta chưa bảo vệ được đa dạng sinh học, có những phương pháp đánh bắt tận diệt, không có mùa vụ dành cho cá tôm sinh sản trở lại nên sản lượng ngoài khơi giảm rất nhiều. Trong thủy sản nuôi trồng ngày càng tăng nhưng việc đánh bắt ngày càng giảm, những ngư dân xưa nay đi đánh bắt thì giờ không có việc làm thu nhập ven biển ngày càng xuống nhất là trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng tăng…”

Ngoài ra, tiến sĩ Đặng Kim Sơn còn cho biết, có thể thực hiện ba bước nuôi trồng thủy sản, một là trong bờ nuôi trồng thủy sản nước ngọt gồm nuôi tôm, nuôi cá cùng với lúa, khu vực ven biển thì tôm, cá, ngêu sò cả ven lẫn bờ và một hình thức nuôi trồng mới là trên biển.

“Thứ nhất là gần các hòn đảo rồi dần ra ngoài khơi hơn, nhiều biện pháp tại một số nước ở Bắc Âu và Bắc Á cũng đang được Việt Nam dần tiếp thu. Việc nuôi trồng như thế có thể giúp cho người dân có thêm sinh kế để ổn định không đi đánh bắt làm tài nguyên cạn kiệt hơn nhưng tất nhiên muốn làm chuyện đó cần phải có kỹ thuật, vốn và một tổ chức rất tốt không những của nhà nước mà của cộng đồng nữa.”

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa. AFP

Khu vực ĐBSCL từ trước đến nay được xem là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều tác động bất lợi khiến việc trồng lúa của người nông dân không còn như trước nữa. Nhiều biện pháp hỗ trợ, nhiều phương án thay đổi mô hình hoặc kết hợp được đưa ra để giải quyết tình trạng thất thu từ cây lúa.

Tuy nhiên mối tương quan giữa việc nuôi trồng thủy sản và trồng lúa gạo, cây ăn quả mang đến hiệu quả cho người nông dân như thế nào vẫn còn là bài toán khó.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn nhận định rằng hơi khó để so sánh “…vì thật ra chúng tôi vẫn đang theo dõi mô hình này, trồng lúa thì nó không làm cho người nông dân khá lên được vẫn nghèo, trồng lúa kết hợp với cây ăn trái thì nó không giàu nhưng dù sao nó sẽ ít rủi ro hơn, còn nuôi tôm thì mau giàu, trúng vào ba vụ là người nông dân giàu lên liền và rủi ro dẫn đến phá sản cũng rất cao chỉ cần một trận dịch…”

Ngoài ra, tiến sĩ Tuấn khẳng định với chúng tôi rằng ông không ủng hộ việc duy trì diện tích trồng lúa cũng như việc nuôi tôm quy mô công nghiệp mà ông ủng hộ mô hình kết hợp hài hòa xen kẻ giữa hai loại này được gọi là “Lúa- Tôm”. Tiến sĩ giải thích

“Khi mùa mưa nước ngọt dồi dào thì người dân trồng lúa thì trồng một vụ lúa thôi, khi thu hoạch lúa xong rồi gốc rạ để lại trong ruộng lúa, khi hết mưa thì nước mặn từ từ vô và thả tôm xuống, tôm ăn gốc rạ và chất thải của tôm sẽ trở thành phân bón lúa cho mùa tiếp theo. Thì mua hình này tương đối phù hợp với tình hình khí hậu hiện nay.”

Tiến sĩ Tuấn thừa nhận mô hình này được triển khai cũng khá rộng tại các tỉnh thành như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh và một số nơi tại Kiên Giang cũng đang thử mô hình này và được sự đón nhận của người nông dân. Tuy nhiên, họ (người nông dân –pv) cần thời gian để chuyển đổi từ từ vì họ đã quen làm lúa giờ nuôi tôm đầu tư quá nhiều rất dễ bị sốc một số vấn đề.

Đồng ý với mô hình này, tiến sĩ Đặng Kim Sơn nhận định, mô hình này đang được phát triển khá nhanh và được xem là phù hợp với người nông dân.

“Tôi nghĩ cần phải có một quy hoạch rất là rõ ràng vì hệ thống thủy lợi nó phải rất là rành mạch, trồng lúa là ngăn mặn dẫn ngọt về, nuôi tôm thì nước vào nước ra phải có tỉ lệ nước lợ nhất định. Đây là lúc các tỉnh thành cần làm rất rõ trong quá trình nước biển dâng thì từng bước thay đổi kiến trúc đồng ruộng như thế nào. Thứ hai là hệ thống nuôi tôm cần cung cấp rất nhiều điện mà hiện nay các tỉnh chưa có tiêu chuẩn vấn đề đó, thủy điện tập trung các vùng nước ngọt để cho các sinh kế khác chứ không ven biển.”

Theo tiến sĩ Đặng Kim Sơn, chuyển đổi mô hình nuôi trồng thủy sản quy mô công nghiệp cần phải có hệ thống máy móc, thiết bị, vật tư khá nhiều, giao thông vận tải phải tăng lên, còn chưa kể đến các nhà máy chế biến và tiêu thụ nông sản đầu ra, cơ sở hạ tầng và điều kiện sản xuất phải được thay đổi nhưng để có được hậu cần đầy đủ cho việc chuyển biến sản xuất lớn lao như vậy thì cần một thời gian và quyết tâm thật sự đồng bộ giữa chính quyền và người nông dân.

Ý kiến (1)
Share

Long Pham

nơi gửi Hoa Kỳ

Bài phỏng vấn này giá trị vì trình bày những điều kiện khó khăn nông dân đang hiện nay phải đối phó, đó là kiến thức và vốn liếng để tranh đấu với chất nước, với lượng nước, với thời tiết, với khí hậu và cả thị trường. Hai chuyên gia trong nước đã đưa ra kế hoạch nông sản thủy sản để thích ứng với nghịch cảnh.

Có một thách đố khác khẩn thiết hơn nữa RFA và các chuyên gia cần thảo luận chung với đề tài này, ngoài mặn, lợ hay ngọt mà hiện có những vùng nước bao la nhưng bị ô nhiễm tích lũy lại, ở đó ngọt lợ hay mặn nhưng bẩn đục đến độ không tắm rửa sinh hoạt được nữa thì không thể nuôi trồng con gì hay cây gì nổi.

Khi ô nhiễm đến độ này rồi, việc phục hồi vô cùng tốn kém và ngay sau đó gìn giữ nước khỏi bị ô nhiễm trở lại còn khó hơn, bởi vì một con sâu cũng làm rầu cả nồi canh.

Do đó chấm dứt và kiểm soát việc thải ô nhiễm vào nguồn nước là ưu tiên cao nhất mà mọi công dân, công nghiệp, thương nghiệp phải tuân thủ.

26/09/2019 10:51

Xem toàn trang