Trung Quốc: Tăng trưởng trong run sợ

Tuần qua, Cục Thống kê Quốc gia của Trung Quốc loan báo hai số liệu khả quan về kinh tế. Trong quý một năm nay kinh tế đã đạt mức tăng trưởng 11,9%, cao nhất từ gần ba năm qua.
Việt Long & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2010.04.21
Triễn lãm xe hơi ở Jinan, Trung Quốc vào tháng 12 năm 2009. Triễn lãm xe hơi ở Jinan, Trung Quốc vào tháng 12 năm 2009.
AFP PHOTO

Thứ hai là chỉ số giá tiêu thụ trong tháng Ba chỉ tăng có 2,4% so với 2,7% của tháng Hai. Đáng ngạc nhiên là trước đó một ngày, hôm 14 tháng Tư, Quốc vụ viện Trung Quốc lại đánh giá tình hình là "vô cùng phức tạp" và ngày 17 thì ban hành hàng chục biện pháp ráo riết ngăn chặn bong bóng đầu tư trên thị trường bất động sản. Giữa những thông tin mâu thuẫn như vậy, nền kinh tế Trung Quốc có vững mạnh như người ta thường nghĩ, hay là xứ này đang gặp nhiều vấn đề tiềm ẩn bên trong? Diễn đàn Kinh tế nêu câu hỏi cho nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, qua phần trao đổi do Việt Long phụ trách sau đây.

Tăng trưởng không bền vững

Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Hôm 15 vừa qua, Cục Thống kê Quốc gia của Trung Quốc cho biết kinh tế xứ này đạt mức tăng trưởng tới gần 12% trong quý một năm nay và lạm phát lại có vẻ giảm trong tháng Ba. Các số liệu kinh tế đều có vẻ khả quan, nhưng dường như là lãnh đạo Bắc Kinh lại hết sức dè dặt, thậm chí còn lo ngại như người ta có thể thấy qua các nhận định và biện pháp của Quốc vụ viện, tức là Hội đồng Chính phủ của Trung Quốc. Vì vậy, chương trình chuyên đề kỳ này yêu cầu ông trình bày bức tranh toàn cảnh của kinh tế Trung Quốc và phân tích vì sao tình hình lại không khả quan như dư luận bên ngoài có thể nghĩ. 

Trung Quốc đang có vấn đề mà lại là vấn đề không dễ giải quyết về cả kinh tế lẫn chính trị và ngoại giao, vì vậy Quốc vụ viện của họ mới than là tình hình "cực kỳ phức tạp".

Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

Nguyễn Xuân Nghĩa: Một vài cơ sở đầu tư quốc tế vào thị trường Trung Quốc có khi nói đến hiện tượng lý tưởng là kinh tế xứ này đạt mức tăng trưởng cao trong khi lạm phát lại suy giảm. Khi họ chiêu dụ đầu tư thì phải nói tới mặt tích cực của tình hình, nhưng sự thật lại không tốt đẹp như vậy. Lãnh đạo Bắc Kinh biết rõ điều ấy hơn, cho nên sau khi loan báo tốc độ tăng trưởng 11,9% trong quý một và đà tăng giá tiêu thụ chỉ có 2,4% trong tháng Ba, họ lại tỏ vẻ lúng túng.

Song song, Bắc Kinh lại bị sức ép rất mạnh của cộng đồng thế giới về lối quản lý kinh tế vĩ mô. Hôm 17 thì Liên hiệp Âu châu nhận định là Bắc Kinh phải để đồng Nhân dân tệ tăng giá hầu góp phần tái lập quân bình kinh tế toàn cầu. Hôm 20, họ phê phán không khí kinh doanh suy đồi của Trung Quốc với chủ trương bảo hộ mậu dịch và tinh thần dân tộc có màu sắc sô vanh bài ngoại. Về phần Hoa Kỳ, Quốc hội Mỹ hăm dọa biện pháp trả đũa trong mấy tháng tới nếu Bắc Kinh không điều chỉnh tỷ giá đồng bạc và bộ Thương mại sắp cho điều tra vụ hối suất quá thấp này để khiếu nại và đề nghị trừng phạt. Ngoài hai khối kinh tế Âu-Mỹ, các xứ Á châu khác cũng không mấy hài lòng việc Bắc Kinh định giá đồng Nguyên quá thấp để chiếm lợi thế cạnh tranh khi cả thế giới còn lao đao về kinh tế.

Nói vắn tắt, Trung Quốc đang có vấn đề mà lại là vấn đề không dễ giải quyết về cả kinh tế lẫn chính trị và ngoại giao, vì vậy Quốc vụ viện của họ mới than là tình hình "cực kỳ phức tạp".

Việt Long: Trước khi phân tích chuyện phức tạp này, xin hỏi ông nhờ đâu kinh tế Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng ngoạn mục là gần 12%? Và ông nghĩ tình trạng ấy có bền vững không?

Bảng đánh giá của Ngân hàng Thế giới về mức độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong những năm qua. AFP PHOTO.
Bảng đánh giá của Ngân hàng Thế giới về mức độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong những năm qua. AFP PHOTO.
Nguyễn Xuân Nghĩa: Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc cho biết là so với quý I năm ngoái thì kinh tế xứ này tăng trưởng được 11,9%. Đấy là kết số của 6,9% nhờ đầu tư, cộng với 6,2% nhờ tiêu thụ, nhưng trừ đi 1,2%  bị mất vì xuất khẩu giảm (11,9 = 6,9 + 6,2 - 1,2). Đây là một tiến bộ khả quan hơn nhưng không bền, vì không thể duy trì được trong lâu dài.

Ta nhớ là mùng hai Tháng Hai, lần đầu tiên công bố các thành tố của tăng trưởng, Cục Thống kê cho biết trong toàn năm 2009, kinh tế Trung Quốc tăng được bình quân là 8,7% dù thế giới còn bị suy trầm toàn cầu. Con số 8,7% này là kết số của 8% nhờ đầu tư, 4,6% nhờ tiêu thụ nhưng mất 3,9% vì xuất khẩu giảm (8,7% = 8% + 4,6% - 3,9%). Nói cách khác, kinh tế tăng trưởng 8,7% là nhờ đầu tư 8% - tương đương với 92% của sức tăng trưởng. Và sức tiêu thụ 4,6% bị hao hụt vì xuất khẩu giảm 3,9%. Như vậy, so với năm ngoái, yếu tố tích cực của quý một vừa qua là sức tiêu thụ có tăng và phần đóng góp của đầu tư có giảm, chỉ còn là 58% - là 6,9% của đà 11,9% - thay vì là 92%. Nhưng, ngược lại, xuất khẩu vẫn giảm dù chiến lược kinh tế xứ này vẫn dùng xuất cảng làm đầu máy tăng trưởng và chi phối tới 40% của sản lượng quốc gia.

Đúc kết lại mấy số liệu rắc rối vừa qua, ta thấy kinh tế Trung Quốc có tăng trưởng thì chủ yếu vẫn nhờ kế hoạch kích thích kinh tế qua đầu tư và tín dụng. Cuối năm 2008, họ tăng chi một khối lượng tương đương với gần 600 tỷ Mỹ kim và suốt năm thì bơm thêm tín dụng tương đương với 1.400 tỷ đô la. Tổng cộng là 2.000 tỷ đô la cho một nền kinh tế có sản lượng chừng 5.000 tỷ, tức là bơm vào kinh tế 40% sản lượng như cho người bệnh uống thuốc bổ để giữ nhịp độ lao động. Hãy tưởng tượng là với sản lượng kinh tế chừng 90 tỷ mà Việt Nam bơm ra 40% - là 36 tỷ - để kích thích thì tất nhiên sản xuất phải tăng. Nhưng không thể kéo dài việc kích thích đó và trước mắt thì sẽ thổi bùng bong bóng đầu tư và lạm phát.

Ám ảnh lạm phát

Trung Quốc bị ám ảnh với nạn lạm phát khiến quân đội của Trung Hoa Quốc dân đảng sụp đổ thời 1949 và sau đó là vụ tàn sát Thiên an môn vào năm 1989.

Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

Việt Long: Nhưng chỉ số giá tiêu thụ trong Tháng Ba lại không tăng mạnh như người ta e ngại, như vậy, tạo sao lãnh đạo Bắc Kinh lại lúng túng và gọi đó là tình hình phức tạp?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Trước hết, tôi xin có vài lời về kỹ thuật thống kê của Trung Quốc để ta liệu trừ bì gia giảm vì sự thiếu chính xác của họ. Trung Quốc bị ám ảnh với nạn lạm phát khiến quân đội của Trung Hoa Quốc dân đảng sụp đổ thời 1949 và sau đó là vụ tàn sát Thiên an môn vào năm 1989, cho nên nhà cầm quyền chú ý tới số liệu về vật giá mà họ thu thập và pha chế với "màu sắc Trung Hoa". Cụ thể là họ chọn một số mặt hàng tiêu biểu trong ngân sách chi tiêu gia đình và so sánh giá cả từ thời điểm này qua thời điểm khác. Việc chọn lựa này có tính chủ quan và từ 10 năm nay còn giảm trừ phần chi tiêu về lương thực, vốn dĩ chiếm tỷ trọng rất cao trong ngân sách gia đình. Vì vậy, khi thấy chỉ số giá tiêu thụ chỉ tăng 2,4% trong Tháng Ba, ta không nên cho rằng lạm phát hết là nguy cơ trước mắt, nhất là khi mình nhìn thấy đà tăng giá của thương phẩm và vật liệu sản xuất.

Nói vắn tắt, đà tăng trưởng cao và giá tiêu thụ không tăng mạnh là số liệu đẹp nhất năm nay. Tình hình mấy tháng tới sẽ không được như vậy và trong vài năm tới lại còn đáng lo hơn vì bơm tiền kích thích sản xuất cũng là thổi bong bóng.

Công nhân trong nhà máy sản xuất xe hơi hiệu Chery ở Trung Quốc. AFP PHOTO.
Công nhân trong nhà máy sản xuất xe hơi hiệu Chery ở Trung Quốc. AFP PHOTO.
Việt Long: Bây giờ, ta bước qua phần hai, về những vấn đề kinh tế xã hội làm lãnh đạo Bắc Kinh phải lo lắng và càng không muốn bị thế giới gây áp lực. Đấy là những vấn đề gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Câu chuyện này rất dài nên tôi xin trình bày tóm lược mà thôi.

Sau 30 năm duy ý chí và hoang tưởng của Mao Trạch Đông làm Trung Quốc lụn bại, Đặng  Tiểu Bình tiến hành cải cách từ năm 1979 bằng cách mở cửa buôn bán với thế giới. Chiến lược khi ấy là bắt chước Nhật Bản, lấy xuất khẩu làm sức kéo đầu máy tăng trưởng là các tỉnh thành nằm ở vùng duyên hải. Lý luận bên trong là nhờ phát triển khu vực duyên hải, kinh tế bên trong rồi cũng được cải thiện. Chuyện ấy có xảy ra nếu so với thời Mao. Nhưng kinh tế tăng trưởng theo hai ba tốc độ, giữa miền Đông đã công nghiệp hoá với các tỉnh bị khoá trong lục địa thì vẫn lạc hậu, và các vùng phiên trấn hay tự trị nằm sâu bên trong lại còn chậm tiến hơn nữa.

Việt Long: Trên diễn đàn này, ông cũng đã nhiều lần nói đến hiện tượng một quốc gia có ba nền kinh tế và không thể có sự phối hợp như trong một thể chế chính trị liên bang,phải không?  

Bắc Kinh muốn chuyển hướng để bớt lệ thuộc vào xuất khẩu, chú ý đến phẩm hơn lượng, thì tình hình kinh tế suy sụp nên lại càng lệ thuộc vào xuất khẩu hơn nữa.

Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

Nguyễn Xuân Nghĩa: Vâng, và ngày nay tôi nghĩ là người dân Trung Quốc đã ý thức được điều ấy, và họ không mấy hài lòng.   Sau Đặng Tiểu Bình, thế hệ lãnh đạo thứ ba như Giang Trạch Dân và Chu Dung Cơ có thấy vấn đề nên phát động kế hoạch "Tây tiến" nhằm thổi đầu tư vào các tỉnh sâu trong lục địa mà kết quả không thành. Lý do chính vẫn là đảng viên cán bộ và các đảng bộ địa phương giành lấy đặc lợi cho mình mà không chịu chia xẻ cho vùng khác và cưỡng chống chỉ thị của Trung Ương. Sau Đại hội 16 vào năm 2002, thì thế hệ lãnh đạo thứ tư là các ông Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo đều thấy nguy cơ phân hoá của một quốc gia có ba nền kinh tế và sự khác biệt ngày càng cao về lợi tức và nhận thức giữa dân chúng nông thôn với thành thị. Đây là ta chưa nói đến nạn tham ô và sứ quân kinh tế khiến người dân bất mãn. Họ muốn tập trung quyền lực vào trung ương và tái phân lợi tức cho các khu vực và thành phần nghèo khốn theo khẩu hiệu gọi là "xã hội hài hòa", nhưng cũng bi cưỡng chống. Qua Đại hội 17 năm 2007, họ báo động về nhiều bất toàn nghiêm trọng của kinh tế, xã hội và môi sinh lẫn cơ chế chính trị và muốn đổi chiến lược kinh tế là giảm dần sự lệ thuộc vào xuất khẩu, cho dân được hưởng thành quả của sản xuất với một tỷ giá đồng bạc cao hơn...

Cùng với áp lực bên ngoài, những xoay chuyển ở bên trong mới khiến Bắc Kinh bắt đầu cho điều chỉnh hối suất đồng bạc từ tháng Bảy năm 2005. Và ông Hồ Cẩm Đào còn có thể trù tính là sau cao điểm tâm lý của Thế vận hội Bắc Kinh vào năm 2008 thì sẽ cải cách mạnh hơn trước khi họ mãn nhiệm vào Đại hội tới, năm 2012...

Đồng nhân dân tệ và đồng đô la Mỹ. AFP PHOTO.
Đồng nhân dân tệ và đồng đô la Mỹ. AFP PHOTO.

Phụ thuộc xuất khẩu

Việt Long: Nhưng chẳng may là khủng hoảng bất ngờ bùng nổ năm 2008 và sau đó kinh tế bị suy trầm, phải không ạ? 

Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa đúng vậy và bây giờ ông Hồ Cẩm Đào bị kẹt nặng.

Trước hết, kinh tế Mỹ bị suy trầm từ cuối năm 2007 nên sức nhập cảng sẽ phải giảm. Sau đó là các cơn chấn động tài chính từ đầu năm 2008 với cao điểm là vụ khủng hoảng tài chính hồi Tháng Chín tại Hoa Kỳ đã lan thành suy trầm toàn cầu trong năm 2008-2009. Nghĩa là đúng lúc Bắc Kinh muốn chuyển hướng để bớt lệ thuộc vào xuất khẩu, chú ý đến phẩm hơn lượng, thì tình hình kinh tế suy sụp nên lại càng lệ thuộc vào xuất khẩu hơn nữa. Tranh luận chính trị đã bùng nổ giữa một bên là phải đạt mức tăng trưởng thật cao, bằng mọi giá, nếu không là bị động loạn; bên kia là phải đạt mức công bằng xã hội cao hơn, tăng trưởng có phầm chất hơn, nếu không thì cũng sẽ bị động loạn!

Chủ tịch Hồ Cẩm Đào chứ không phải Thủ tướng Ôn Gia Bảo bị phê phán nặng nhất về kinh tế và cuối cùng đành nhượng bộ. Ngày 25 tháng Bảy năm 2008, một ngày nên nhớ, bộ Chính trị có phiên họp đặc biệt về kinh tế, sau đó là quyết định giàng giá đồng bạc vào tiền Mỹ với hối suất thấp hơn để thúc đẩy xuất khẩu mà ra khỏi suy trầm. Từ đó, Trung Quốc gây vấn đề cho thế giới khi cả thế giới cũng cần xuất cảng nhiều hơn và nhập khẩu ít hơn... Sau đó mới là việc Bắc Kinh quyết định tăng chi và bơm tín dụng vào kinh tế. Bây giờ, dù đã cố tình can thiệp vào thị trường ngoại hối với tỷ giá đồng bạc quá thấp, Trung Quốc vẫn không gia tăng được xuất khẩu và khi lấy đầu tư làm lực đẩy thì lại thổi lên bong bóng đầu tư. Vì vậy mà tình hình mới bị đánh giá là phức tạp!

Việt Long: Câu chuyện này qủa thật hết sức ly kỳ, theo những điều ông trình bày, vì hối suất đồng Nhân dân tệ là vấn đề thương mại và ngoại giao với các nước nhưng cũng là vấn đề xã hội và chính trị ở trong nội tình Trung Quốc. Rồi đây tình hình sẽ ra sao?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi thiển nghĩ rằng Bắc Kinh đành cố chống đỡ để bong bóng đầu tư khỏi vỡ như chuyện đã xảy ra cho Nhật Bản hai chục năm trước. Còn chuyện xoay đổi chiến lược kinh tế thì sẽ phải đình hoãn cho tới Đại hội đảng vào năm 2012. Ông Hồ Cẩm Đào chỉ còn hơn hai năm tại chức nên không thể lấy quyết định có rủi ro quá lớn cho di sản mà ông ta sẽ để lại và thế hệ lãnh đạo thứ năm như Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường hay Bạc Hy Lai sẽ phải giải quyết bài toán này, trong điều kiện ngặt nghèo hơn rất nhiều.

Việt Long: Xin cám ơn ông Nguyễn Xuân Nghĩa và hẹn với ông cùng quý vị là sẽ có ngày chúng ta trở lại đề tài này.

Theo dòng thời sự:

Nhận xét

Bạn có thể đưa ý kiến của mình vào khung phía dưới. Ý kiến của Bạn sẽ được xem xét trước khi đưa lên trang web, phù hợp với Nguyên tắc sử dụng của RFA. Ý kiến của Bạn sẽ không xuất hiện ngay lập tức. RFA không chịu trách nhiệm về nội dung các ý kiến. Hãy vui lòng tôn trọng các quan điểm khác biệt cũng như căn cứ vào các dữ kiện của vấn đề.

Nhận xét

Anonymous
01/07/2011 04:48

Tôi cảm thấy 1đất nước đông dân như vậy mà trong đó chiếm tám mươi phần trăm là ngu dân thì làm sao thế giới phải đề phòng và lo ngại làm gì