Thơ Hà Thúc Sinh

Mặc Lâm
2016-09-10
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này
Từ trái sang: Hà Thúc Sinh, Võ Đình, Phan Ni Tấn và Vi Khuê tại Washington DC năm 1985.
Từ trái sang: Hà Thúc Sinh, Võ Đình, Phan Ni Tấn và Vi Khuê tại Washington DC năm 1985.
Courtesy of sangtao.org

Hà Thúc Sinh nhiều năm về trước đã rất nổi tiếng với tác phẩm Đại Học Máu với 822 trang sách, chia thành 70 chương, tường trình như một chứng nhân về những điều mắt thấy tai nghe của ông trong 4 “trại cải tạo”: Trảng Lớn, An Dưỡng, Suối Máu và Hàm Tân.

Đó là những nơi mà Hà Thúc Sinh, một sĩ quan thuộc binh chủng Hải quân Việt Nam Cộng Hòa, đã sống từ tháng 6 năm 1975 đến tháng 2 năm 1980. Đại Học Máu ghi nhận lại những gì mà ông và đồng đội trải qua như một nhắc nhở cho lịch sử biết rằng từ những nơi được gọi là trại cải tạo ấy là khổ nhục là máu xương của những người thua trận.

Mười năm sau khi Đại Học Máu ra đời ông lại cho ra mắt một số bài thơ khác trong tập Ngàn lời thơ. Tập sách mỏng được ông chia sẻ với người đọc trong không gian của các bài thơ viết về thời ông ở tù cũng như khi được trả về với đời sống thường ngày như mọi người. Mỗi bài thơ người đọc cảm nhận được như đang nhìn sự việc xảy ra nhưng hơn thế, cùng với sự việc là cảm xúc làm cho hình ảnh sự việc ấy sinh động và lôi kéo họ vào với thế giới của Hà Thúc Sinh, nhà thơ, thế giới trầm lắng không có máu nhưng có đầy trải nghiệm của một người đã tốt nghiệp rất lâu từ ngôi trường đại học tả tơi và đau thương này.

Hà Thúc Sinh lật lên từng trang viết âm ỉ trong lòng ông, thổi vào nó sự tĩnh lặng lẫn đập phá. Ông tha thiết nhớ từng ngày tù cùng những kỷ niệm buồn. Hầu như ông không có kỷ niệm nào vui mà toàn là nỗi ám ảnh với xác chết, lao động, ngày về cực nhọc, ám ảnh trong những giấc mơ ngắn và đầy tiếng ú ớ…

Ngày về của ông cũng như bao người tù khác đầy ắp những trò chơi mà ông tiếp tục đóng vai một hình nhân hơn là một gã người thật sự. Ông quan sát cuộc sống và tìm thấy hình ảnh mình trong đó dị dạng và khó nhận ra. Ông thấy chung quanh đầy hình ảnh của ông trong xã hội sau khi ra tù, họ cũng như ông mặc dù có sáng láng sạch sẽ hơn nhưng vẫn những ngộ nhận, những u mê về chung quanh. Ông thấy cánh cửa đời tuy không khép nhưng không còn gì để tìm và ngắm nghía nó.

Trên con đường từ trại về nhà, những ngôi nhà lướt qua mắt ông như cuốn phim quay chậm. Chúng là hình ảnh chuẩn bị cho đoạn đường trước mặt thăm thẳm như lúc mới bắt đầu làm thủ tục nhập trại khi xưa. Những nhà máy, những chuyến tàu điện, những tiếng rao từ Hà Nội, Thanh Hóa, hay Vinh… tất cả như một điệp khúc cố làm cho thi sĩ hoang mang, mụ mẫm.

Ra đời, đi lễ nhà thờ ông một phen lạ lùng với những gì xảy ra chung quanh. Người ta không còn hôn phối với Chúa nữa mà ám ảnh của chiêu dụ bên ngoài nhà thờ đã khiến họ bị chôn trong mớ âm thanh thường nhật. Hà Thúc Sinh nhón gót tìm Chúa của ông trong ngày lễ Lá mà tự hỏi phải chăng mình đã vào lầm chỗ.

Tiếng tung hô về Chúa không còn nữa và thay vào đó là những tạp âm của xã hội, xã hội chủ nghĩa.

Chúa Nhật lễ Lá

Bầy chó đói cắn nhau rên siết trên đất

Mặt trời mỏi mệt leo thang

Khu phố như sau bệnh dịch

Người bước đi không ai muốn ngó ngàng


Tới cuối phố đường chia hai lối

Dăm anh công an ít nói ngồi hút thuốc bên đàng

Bà mẹ đánh con như kẻ thù tội rơi mất ít khoai lang

Mua sau lúc xếp hàng từ hồi chuông thứ nhất


Nắng đã đủ cho lá buông đem phơi

Đây là khu lao động làm quạt

Đen đầu người khom tước mũi dao như xẻ mối thù

Tiếng tách lá nối tiếp gây âm xiếng xích nặng


Trong nhà thờ là chỗ đùa của gió

Vị linh mục rời cung thánh từ lâu với nét mặt không buồn vui

Một nhúm cụ già trên bặng ghế ọp ẹp nặng tai

Vẫn tưởng đâu đây rào rào lá trải ngày Chúa đến

Từ đời thật ông quay lại đời tù, nơi ông vừa rời đi nhưng tâm trí vẫn luôn ở lại. Ở đó ông liên tưởng tới từng giọt mồ hôi của người tù khi lao động, rồi đời thật khi ông quan sát người công nhân trong công xưởng hai thứ có khác gì nhau?

Con sâu và cái kiến

Như kẻ liệt ngồi bên kẻ câm

Đầu lốm đốm những miếng ăn toan tính

Nắng hay mưa cứ phơi vai trần

Vá víu mãi cuộc đời thêm nặng


Giờ tan xưởng lòng không tan xưởng

Dù những giọt mồ hôi đã được chấm công

Tiếng động phả mùi tanh xiềng xích

Nón lá sụp che mình ngửi mình


Khách qua hàng Bông trạm xe điện

Người ngồi khom kín tựa nấm mồ

Ngọn cờ phần phật như cười hỏi

Lũ tĩnh vật kia đã chết chưa?


Phút chốc vùng lên như cách mạng

Những nấm mồ mở nắp xương xẩu lao đi

Chuyến tầu điện như con sâu trăm tuổi

Vừa sa cơ bị bầy kiến đè


Đứng xa như nền văn hiến cũ

Khách ngó đời sâu cõng kiến bò đi

Buồn tự hỏi trong lòng chảo nóng

Con sâu cái kiến có lối về?

Đường truyền hiện tại dẫn tới quá khứ nhiều hơn tương lai, ông tiếp tục dẫn ông về từng nhà máy như đếm lại con lắc thời gian, đếm lại sợi tóc trên đầu, đếm lại từng đêm đen sâu thẳm như đời sống người công nhân tăm tối mù mịt.

Nhà máy giấy Vĩnh Phú

Bảng chỉ tiêu to choán lối vào

Cổng chào đỏ thời gian muối sẫm

Cô công nhân đội nắng giữa ao

Tước võ gỗ buồn vui miệng ngậm


Như đời người trong guồng máy đảng

Đập, xay, lọc, khuôn bột đem phơi

Ông cụ già ngước mắt nhìn mây trắng

Nhớ xa xăm cúi mặt bồi hồi


Bóng cán bộ khóa bưng ý nghĩ

Những tay người bốc xếp cong cong

Ao hồ xưởng máy chiều phủ xám

Vài trăm tờ mo giấy cháo lòng


Tựa giàn máy sau thời Điềm, Tắc*

Người đảng viên trẻ ép lòng mơ

Đứa em nhỏ mai thôi mù chữ

Tiếp nối cha anh biết i tờ


Tiếng kẻng rền như tiếng khóc lớn

Người chủ nhiệm rời xưởng lên yên

Đường đê gió ngược còng lưng đạp

Áo rách thả bay mớ tờ liền

Chiếc xe chở ông ngang qua Thanh Hóa, để ông có dịp làm thơ như một cách ghi lại những gì xảy ra bên đường về nhà. Thanh Hóa với ông vừa lạ vừa quen. Lạ bởi từng sống nhưng sao quá khác, quen bởi nó quá giống với những nơi mà ông đã đi qua: nghèo nàn và nhẫn nhục.

Chiều qua Thanh Hóa

Những nhịp cầu như những lưng còng

Gánh sức nặng suốt buổi chiều ảm đạm

Ngó sang sông mờ nét tiêu hao

Tây thành cũ hay là thôn bản?


Tự hỏi mãi. Đến chưa? Chưa đến?

Hay chỗ này Thanh Hóa ngày xưa

Ngó lên mây bạch y thương cẩu

Nhìn xuống dòng bóng cũ mù mưa


Thấy chị qua muốn lời thăm hỏi

Mắt ngu ngơ che nón im hơi

Nhìn em đến này em muốn hỏi

Miệng ngập ngừng rét mướt im lời


Mưa nặng hạt vỗ buồn cố xứ

Như tấm hình rỗ mặt trăm năm

Tia chớp lóe tang sông một dải

Buồn tôi nhô mồ mả đằm đằm

Có lúc ông quay lại với bạn bè xưa trong trại cải tạo để từ đó suy gẫm thêm về những bất an khác chung quanh. Trong khi đi lấy củi, hình ảnh đứa bé lén trộm mớ củi nhỏ nhoi của người tù đã dấy lên sự phiền muộn về những con người khác bất hạnh hơn cả chính mình mặc dù họ sống bên ngoài chấn song. Ngoài hay trong, nhà thơ biết từ đây sẽ phải sinh hoạt chung với những điều mà ông từng chạy trốn.

Thằng bé đốn củi

Chui mép rừng đước làm nhân chứng

Sự sợ hãi to hơn buồng gan

Người quản giáo đứng xa bất động

Cây như thù, tù chặt phăng phăng


Xa hướng bắc, lò than hoang phế

Mưa bay bay hơi núi mù mù

Trái tim nhỏ thương em thương mẹ

Mò đốn cây gần phía trại tù

Bìa sách Đại Học Máu của Hà Thuc Sinh. Courtesy of isach.info
Bìa sách Đại Học Máu của Hà Thuc Sinh. Courtesy of isach.info

Tù hàng ngang như làn sóng bẩn

Liếm dần dần một vạt màu xanh

Trốn vào đâu lạy Trời lạy Phật

Một thân con tù tội đã đành


Cỏ gai tây nằm không nhúc nhích

Ngó ra ngoài mưa trong hoàng hôn

Một cặp mắt anh tù lấp lánh

Tủm tỉm cười kín như bóng đêm


Tiếng còi thổi gom tù thành bó

Một bó người quẩy trăm bó con

Chui khỏi bụi chiều lên khắp nẻo

Nhìn hai tay kiến cắn đỏ lòm


Ngó về phía lò than hoang phế

Nỗi âm u như mộ giữa đồng

Bước vội vấp ngã lăn trên đất

Năm bó con ai giấu bên đàng

Hà Thúc Sinh khi làm thơ không còn cái chan chát của tản văn trong Đại Học Máu. Ông lấy chất liệu của suy gẫm làm phông nền cho từng bài thơ vì vậy thơ ông có cái nhè nhẹ của lụa nhưng lại nát lòng tiếng xé trên mỗi cái chấm câu. Câu chữ trong thơ Hà Thúc Sinh đầy những tự vấn. Đôi khi tác giả đẩy nó lên tột cùng của cuộc sống: miếng ăn. Và từ miếng ăn xem ra tầm thường ấy là triết lý, thứ triết lý mà rất nhiều người né tránh: hạnh phúc.

Một con dế sẽ trở thành hạnh phúc ngay khi bạn vì nó mà chịu biệt giam trong cô-nếch. Một củ khoai sùng vẫn có giá trị ngang với tình yêu của một cô gái dành cho bạn. Một miếng đường ngọt lịm trong lúc thèm thuồng không phải là hạnh phúc ngang với ngồi trên ngôi vua dù trong chốc lát hay sao?

Ăn

Tao trai trung hiếu làm đầu nhé

Một anh bẻ nghiến bỏ mồm nhai

Tao không là ghế không yêu đít

Ối giời nó béo ngậy như khoai


Núp sau cô-nếch gấy bếp nhỏ

Hai thằng tù lén lút ăn riêng

Hôm nay là ngày vui tháng chín

Cả nước chia nhau một nỗi niềm

 

Bớt lửa mày ơi không cháy hết

Lo gì tao vớ đến hai con

Con này to tiếng tao làm trước

Ôi đùi, ôi bụng, ôi sườn non

 

Hôm nay lễ lớn ăn thịt lợn

Có hai anh bị cắt khẩu phần

Cán bộ cất luôn vào cô-nếch

Tội mừng lễ lớn ăn dế giun

Có lẽ những lần vui đùa hiếm hoi trong cuộc đời tù là lúc được thong dong xả bầu tâm sự một mình nơi vùng hoang vắng.  Hãy nghe Hà Thúc Sinh diễn tả thứ hạnh phúc bình thường ấy như một thiền sư, tự nắm đầu mình rồi kéo lên hòng dạy cho chúng ta bài học về chữ ngã.

Thèm vơi

Nghìn nấc leo lên nghìn nấc xuống

Tháng Tư gánh đá giữa lưng trời

Thèm ăn, thèm uống. Ngưng thèm hết

Thèm đã đầy lại muốn thèm vơi


Lách mình chạng đứng trên hẻm núi

Ngó mây một giải mây xanh xanh

Phanh ra. Gió thổi. Ngưng tay. Ngửi

Làng xa thơm dậy một mùi chanh


Rùng mình. Sướng lặng. Thôi. Không giữ

Phanh ra. Tiếp tục. Phanh bung lơi

Bố khỉ nghêu ngao thằng phía dưới

Tội tình anh lắm em Lan ơi


Trời trên đất dưới mình đâu nhỉ

Khí thế trường chinh với sóng hồng

Một dòng hôi hổi bay như loạn

Có chết thì đây sướng đã xong

Gần tới nhà, nhà thơ người tù Hà Thúc Sinh ghé vào một chiếc quán bên đường, ở đó ông gặp lại bạn bè cùng thời, cùng một lứa bên trời lận đận, mới hay ra bên ngoài nào khác bên trong nỗi ám ảnh tương lai của mỗi con người. Thôi cũng đành cho số phận.

Quán bên đường

Nằm chui khóm lá chiếc bàn thấp

Lề đường một lũ tụm quanh nhau

Ếm sâu hơi thuốc vào gan mật

Bất giác phà ra nỗi dãi dầu


Trung tá xích lô thầm hỏi bạn

Chợ trời dược sĩ sao về không

Cười như nước mắt nói như bỡn

Nó bố trưa nay còn cái quần


Ông giáo sử mấy năm vá lốp

Đồ nghề lỉnh kỉnh nặng trên lưng

Một anh văn sĩ ngồi lê hỏi

Thời xưa phong kiến khá hơn chăng


Gió chiều thổi tốc người nghi ngại

Mỗi hồn hiện một nét công an

Lá khô thôi chạy cây thôi động

Vừa lúc đèn lên khắp Sài Gòn

Rồi cuối cùng thì nhà thơ cũng về được tới nhà, Sài Gòn giờ đây như một tấm màn mỏng giữa xưa và nay, giữa miếng cơm manh áo và nhân cách, đời sống của người dân. Giữa cái trần trụi và cái hào nhoáng gượng gạo của những ngày giữa thập niên 90, những cơn lốc làm tác giả sửng hồn và đời thường héo hắt.

Cánh cửa đời tuy mở toang ra nhưng sức sống và hương thơm thời gian không còn nữa. Ông thở dài và ông trắc ẩn cho chính ông.

Khi về

Về trước nhà xưa đứng ngẫm nghĩ

Nỗi thân quen xa không thước đo

Nắng xuyên soi vách bóng bố ráp

Con vện nằm nén tiếng thở ra


Nét trăng chiếu lệch như miệng mếu

Kìa manh áo rách hay mây nghiêng

Đàn chưa chùi bụi chưa lên phím

Đã thoảng âm hao tiếng khóc rền


Hỏi vợ mừng chi thịt nướng khét

Cảnh nhà đã xác lại càng xơ

Ngồi thu bếp nhỏ nói như ngậm

Ấy hồn sách quý đốt năm xưa


Em ơi rộng cửa cho thơm gió

Thành phố còn đâu hoa nữa anh

Em ơi rộng cửa ai thăm đó

Bóng tối mông lung tình xóm giềng


Về giữa nhà xưa ngồi ngẫm nghĩ

Có ai lộn kiếp trong ta chăng

Giơ tay chẳng thấy bàn tay nữa

Cúi gằm chỉ thấy bóng kinh mang

Thơ Hà Thúc Sinh sau bao nhiêu năm đọc lại vẫn thấy hiện rõ lên nét mặt phong trần của những người muôn năm cũ. Những người mặc dù không phải là đối tượng phải vào trại cải tạo như ông nhưng vẫn chịu chung và nếm trải mùi cay đắng giữa cuộc đời.

Còn ông, ngay khi đã lìa xa cái tổ ấm đầu đời là Việt Nam vẫn không thể quên những hình ảnh bất an đầy ám ảnh…

 

*Sử Tàu cho rằng Tiết Tắc đời Tề chế ra mực và Mông Điềm đời Tần chế ra bút. Sau đó chắc là có máy chế giấy!

Xem toàn trang