Đoàn Dạ Lý Hương và hiện tượng Hùng Cường, Bạch Tuyết

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2013-11-02
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này
Bìa đĩa cải lương Yêu Người Điên, soạn giả Thiếu Lĩnh, đoàn cải lương Dạ Lý Hương.
Bìa đĩa cải lương Yêu Người Điên, soạn giả Thiếu Lĩnh, đoàn cải lương Dạ Lý Hương.
Photo courtesy of trongtam78

 

Khán giả cải lương của những năm giữa thập niên 1960 chắc không quên hiện tượng Hùng Cường, Bạch Tuyết, xuất hiện trên sân khấu Dạ Lý Hương đã gây chấn động làng ca kịch, thu hút giới mộ điệu bộ môn nghệ thuật này một cách mạnh mẽ, mà điển hình là khán giả sân khấu lẫn truyền hình đã chờ đón để đi coi đoàn Dạ Lý Hương.

Vị thế không đối thủ

Thật vậy, cải lương sau thời gian hơn một thập niên, tính từ 1952 – 53 trở về sau, hầu như phần lớn gánh hát đã nhắm vào nhiều loại tuồng hương xa, màu sắc. Từ những tuồng dựa theo truyện cổ Á Rập 1001 đêm cho đến các tuồng dã sử Nhựt Bổn. Rồi kế đến thì tuồng ma, kiếm hiệp, đánh chưởng với các xảo thuật bay trên sân khấu. Thỉnh thoảng người ta cũng thấy một số tuồng dựa theo truyện cổ tích Việt Nam như Lâm Sanh Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa, Con Tấm Con Cám, Lưu Bình Dương Lễ v.v... Nói chung cải lương đã khai thác các câu chuyện nhân gian, thần thoại của nhiều quốc gia được dịch ra in thành sách phổ biến. Thế nhưng những loại tuồng trên chỉ ăn khách một các vừa phải và thời gian không lâu thì con số khán giả đến rạp thưa dần.

Đến khi đoàn Dạ Lý Hương của ông bầu Xuân ra đời đã đổi mới sân khấu, mời các soạn giả tên tuổi với các tuồng xã hội, đặc biệt là cặp Hà Triều Hoa Phượng đã tung ra các tuồng xã hội, thích hợp với cảm quan khán giả lúc ấy, và hợp với lối diễn của cặp Hùng Cường Bạch Tuyết nên lần hồi đoàn Dạ Lý Hương đánh bạt những đoàn cải lương khác để tạo vị thế đại ban không đối thủ tại Đô Thành.

Dạ Lý Hương là đoàn hát chọn lựa tuồng tích rất kỹ lưỡng, thời gian nhiều năm đoàn hát này đã dẫn dầu về số lượng tuồng mới, chưa đoàn nào qua mặt được, do đó đã củng cố địa vị một đại ban. Từ đó thinh danh của Dạ Lý Hương càng vang dội, và nhìn qua thực lực thì Dạ Lý Hương còn đủ điều kiện tiến triển hơn nữa nếu như ban giám đốc đoàn này biết khéo giữ đường hướng nghệ thuật lành mạnh và thành phần nghệ sĩ ưu tú sẵn có. Tiếc rằng, đoàn Dạ Lý Hương không nắm giữ lâu dài cái kết quả tốt đẹp cho mình, do những sự kiện sau đây:

Đó là khoảng giữa năm 1971, Hùng Cường kép trụ cột của đoàn Dạ Lý Hương vì không thỏa mãn điều kiện giao kèo nên rời đoàn này. Hùng Cường đã chánh thức nghỉ đoàn Dạ Lý Hương của ông bầu Xuân, nơi mà danh tiếng của anh lên cao nhứt trong cuộc đời nghệ sĩ nhờ đóng chung với đào Bạch Tuyết. Hùng Cường Bạch Tuyết là hai tên tuổi khó quên trong lòng của khán giả.

Hùng Cường ra đi, Bạch Tuyết không có người đóng tuồng cặp với cô nên người ta thấy Bạch Tuyết như lạc lõng trên sân khấu này. Vì thế mà đoàn hát Dạ Lý Hương phải mất đi một số khán giả đáng kể. Hùng Cường bỏ đoàn Dạ Lý Hương phải kể là một biến cố quan trọng trong sinh hoạt cải lương nói chung và đoàn hát Dạ Lý Hương nói riêng. Vì sao Hùng Cường lại làm như thế? Nhiều người đã hỏi như vậy, nhưng người ta cũng tự biết rằng bầu Xuân đã không thỏa mản điều kiện tiền bạc cho anh kép này nên anh phải ra đi. Mỗi bên đều có lý lẽ riêng. Phía đoàn Dạ Lý Hương thì cho rằng nếu trả lương và giao kèo cho Hùng Cường quá cao thì đoàn hát phải bị lỗ lã, các nghệ sĩ khác phải bị kém lương đi.

Đó là cái lý của ông bầu Xuân chủ nhân đoàn hát, còn Hùng Cường thì cho rằng giao kèo và lương anh cũng không cao và đoàn hát vẫn có lời. Những người am tường, theo dõi hoạt động cải lương thời đó đã nói, do ông bầu

Bìa đĩa hát Bạch Tuyết và Hùng Cường trước đây. File photo.
Bìa đĩa hát Bạch Tuyết và Hùng Cường trước đây. File photo. Photo: RFA

Xuân một người từng thành công trên thương trường, là giám đốc công ty xuất nhập cảng. Đồng thời cũng là chủ nhân hãng giấy Kiss Me duy nhứt ở Việt Nam. Ông có cái nhìn thực tế, bởi sau năm Mậu Thân nghệ thuật cải lương điêu đứng, xuống dốc trầm trọng, ngay cả đoàn Dạ Lý Hương của ông cũng trong tình trạng sa sút. Ông còn giữ vững được đoàn hát là nhờ có vốn lớn, sẵn tiền, chớ đại đa số đều rã gánh. Trừ ông bầu Long của Kim Chung ra, các bầu gánh khác còn lại đều mang nợ, sống cầm chừng không biết chết ngày nào, tháng nào. Cải lương trước tình trạng mù mịt như vậy thì ông đâu có dại gì mà bỏ ra nhiều triệu theo như đòi hỏi của Hùng Cường để giữ anh này lại đoàn hát.

Nghĩ hát cho Dạ Lý Hương, Hùng Cường bị mất sân khấu hoạt động, vì không có đoàn nào theo nổi giá giao kèo quá cao của anh ta đặt ra. Từ đó Hùng Cường không chánh thức hát trên một sân khấu nào, mà chỉ hoạt động tân nhạc ở đài truyền hình hay đại nhạc hội mà thôi. Không đi đoàn hát nào đó cũng là điều thất lợi cho anh về mặt danh tiếng, vì tân nhạc không làm cho Hùng Cường nổi bật bằng cải lương, nhất là Hùng Cường hát cải lương với Bạch Tuyết.

Về phía đoàn Dạ Lý Hương cũng bị một khoảng trống lớn vì thiếu Hùng Cường. Và đào Bạch Tuyết, người được xem là “tình nhân nghệ thuật” của Hùng Cường bị mất kép hợp “rơ” nên không sao thi thố được sở trường độc đáo của mình. Như vậy, cách ca diễn của Bạch Tuyết đã xuống dốc, không đủ sức giữ vững ngôi vị thần tượng của mình chớ đừng nói đến lôi kéo được số khán giả vì thiếu Hùng Cường.

Bạn diễn hợp “rơ” mới phát triển được

Nghệ thuật cải lương nếu không có người bạn diễn hợp “rơ” thì tài nghệ không phát triển được. Người ta còn nhớ một chuyện từng xảy ra liên quan đến đào Bạch Tuyết cũng vì người bạn diễn không hợp “rơ” mà xảy ra cải vã và câu chuyện như sau:

Hồi xa lắm rồi, một cậu giáo làng ở tỉnh Bạc Liêu cảm thấy nghề giáo trầm lặng quá, thiếu chất rung cảm mà tâm hồn cậu thì tha thiết với đờn ca xướng hát, nên cậu cương quyết ra đi, lên Sài Gòn để theo cải lương. Cậu giáo đó về sau là kép Út Hiền.

Đến đất Sài Gòn đầu thập niên 1960, năm ấy là năm mà danh tiếng đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn vang dội khắp nơi, cậu bị cuốn hút bởi Út Trà Ôn nên đến xin làm đệ tử. Thấy cậu có vẻ hiền, Cậu Mười bèn thâu nhận và đặt cho cậu cái biệt danh rất “Nam Kỳ” là Út Hiền. Thế là từ đó cậu mang “dòng họ” Út.

Poster quảng cáo vở cải lương Nửa Đời Hương Phấn với Nghệ sĩ Hữu Phước và Út Bạch Lan. File photo.
Poster quảng cáo vở cải lương Nửa Đời Hương Phấn với Nghệ sĩ Hữu Phước và Út Bạch Lan. File photo. Photo: RFA

Thời gian sau Út Hiền là kép chánh đoàn Hương Mùa Thu đóng cặp với đào Ngọc Hương. Có những màn tình tự, vai kề vai, má kề má, đã làm cho ông xã của nàng là soạn giả Thu An điên tiết lên, và nhứt định phải cho Út Hiền rời khỏi đoàn.

Rồi thì Út Hiền đi làm kép chánh của nhiều đoàn hát khác như ai nấy đều biết. Nhưng trên sân khấu Dạ Lý Hương, anh đành thúc thủ đứng hạng nhì sau kép Hùng Cường. Chuyện rõ ràng là thế, Út Hiền không bao giờ chối cả, cũng như mọi người đều xác nhận như vậy.

Rồi có một lần nọ tại Bạc Liêu, kép Hùng Cường bận về Sài Gòn đi công tác (bởi Hùng Cường là kép lính có lệnh gọi là phải về). Không lẽ vì thiếu một người đoàn hát phải nghỉ? Củng có thể thay Hùng Cường tạm hát được mà. Thế là Út Hiền “phụng mạng” đứng ra thay thế Hùng Cường để đoàn hát khỏi nghỉ và đào kép khỏi mất đêm lương.

Tưởng vậy là ơn nghĩa, tròn trịa rồi, không dè việc thay thế ấy không làm hài lòng người đóng cặp với mình, tức đào Bạch Tuyết. Do vậy, đang hát nửa chừng, Bạch Tuyết là ó om sòm, cự nự rùm beng trước mặt đông người. Bị chạm tự ái quá mạnh, Út Hiền không thể dằn được, nhứt là về đến xứ sở quê hương Bạc Liêu của mình. Trước mặt bạn bè mà bị Bạch Tuyết “hạ” cho một đòn chí tử, Út Hiền phản công tới tấp và không quên dùng những lời nặng nề thóa mạ trả đũa đối phương Thế là đôi bên “sáp chiến”, một trận giặc mồm được diễn ra quyết liệt.

Út Hiền la ó:

“Cô thần tượng với ai chớ với thằng nầy thì... xê rô(o) biết không?”

Vừa tới đó thì có người can ra, trận chiến tàn lần không thì chưa biết hồi sau kết cuộc thế nào.

Trở lại vấn đề của đoàn Dạ Lý Hương thì người ta thừa biết đoàn này tạo được địa vị đại ban không đối thủ, phần lớn là nhờ tuồng xã hội và cặp Hùng Cường Bạch Tuyết. Nay Hùng Cường đã rời khỏi sân khấu và thiếu tuồng xã hội giá trị, nên ban giám đốc Dạ Lý Hương quyết thay đổi đường hướng nghệ thuật bằng cách cho trình diễn đủ các loại tuồng như màu sắc, võ hiệp v.v... để mong giữ được địa vị sẵn có. Thế nhưng đào kép đoàn Dạ Lý Hương đã quen hát tuồng xã hội, nhất là Bạch Tuyết được khán giả ưa thích nhờ cách diễn sống động bạo dạn và cụp lạc với kép Hùng Cường trong các vở tuồng xã hội, chớ cô không xuất sắc trong các vai tuồng màu sắc, vỏ hiệp cũng như không có giọng ca ngọt ngào ăn khách và sắc vóc lúc ấy lại kém phần tươi trẻ. Do đó đoàn Dạ Lý Hương gặp phải trở ngại to tát  trên bước tiến nghệ thuật. Đoàn không thể tiếp tục trình diễn tuồng xã hội để có đông khán giả mà xoay qua hát tuồng màu sắc, vỏ hiệp thì không thể vượt trội hơn những đoàn khác được.

Từ đó đoàn Dạ Lý Hương đang đà đổ dốc, ế khách thưa dàn, đào kép thường phải lãnh lương “đờ mi”, ban giám đốc Dạ Lý Hương phải đưa đoàn đi lưu diễn các tỉnh quận hơn là tìm đủ mọi cách để hát tại Sài Gòn như những năm trước đó.

Đoàn Dạ Lý Hương tuột dốc làm cho tình trạng không sáng sủa của cải lương thêm trầm trọng. Một đoàn hát lớn cỡ như Dạ Lý Hương mà bị lu mờ đi chẳng phải là điều đáng tiếc lắm sao? Vả lại nếu đoàn Dạ Lý Hương vẫn còn hùng hậu như hồi trước đó thì cái vẻ sa sút của cải lương không hiện rõ ra.

Và điều đáng tiếc nhứt là sự tách rời hai ngôi thần tượng Bạch Tuyết và Hùng Cường. Cặp đào kép linh hồn của Dạ Lý Hương không còn đứng chung với nhau, làm cho đoàn hát này bị suy yếu rõ rệt. Đồng thời nghề nghiệp của hai nghệ sĩ này cũng bị lu mờ đi. Hùng Cường không có sân khấu, Bạch Tuyết không có đối tượng để trình diễn.

Bởi vậy sự “ly thân nghệ thuật” của đôi thần tượng này thật này thật đáng tiếc, hậu quả của nó chẳng những làm cho bản thân Bạch Tuyết Hùng Cường bị thiệt thòi, mà còn kéo lôi thêm sự suy sụp một bảng hiệu được xem là tượng trưng cho sân khấu cải lương miền Nam. Vì thế hậu quả đó cũng có thể xem là cho sự xuống dốc của cải lương tệ hại thêm nữa.

Xem toàn trang