Nhà thơ Nguyễn Đình Chính

Nguyễn Đình Chính sinh năm 1946 tại Hà Nội. Ông là con trai thứ hai trong số ba người con của nhà văn Nguyễn Đình Thi, và bà Bùi Nữ Trâm Nguyệt Nga.
Mặc Lâm, phóng viên RFA
2010-10-02
Email
Ý kiến của Bạn
Share
In trang này
Nhà thơ Nguyễn Đình Chính
Nhà thơ Nguyễn Đình Chính
Photo courtesy of VTC.VN

Năm 1951, bà Nguyệt Nga mất vì trọng bệnh tại khu di tản, Nguyễn Đình Chính sống với bà ngoại. Năm 1955, Nguyễn Đình Chính về Hà Nội và học hết phổ thông. Năm 1965, đi bộ đội. Năm 1976, xuất ngũ, thương binh bậc hai. Nguyễn Đình Chính từng công tác nhiều năm trong các lĩnh vực điện ảnh, sân khấu và báo chí. Hiện ông sống ở Hà Nội.

Nguyễn Đình Chính cũng viết hay làm những công tác khác trong lĩnh vực điện ảnh và kịch nghệ. Tác phẩm Rừng Lạnh của ông được chuyển thể thành kịch bản điện ảnh; tác phẩm Người Trên Mặt Sông và Hòn Đảo chìm xuống không được duyệt và khoảng 15 vở kịch khác, trong đó 5 vở đã được dựng và diễn trên các sân khấu Hà Nội.

Khắc khoải với tệ nạn xã hội

Ông làm khá nhiều thơ và dư luận chú ý nhiều đến thơ ông qua trang mạng hơn là tác phẩm in thông thường. Thơ Nguyễn Đình Chính chứa nhiều nhạc điệu trầm lắng hòa cùng tiếng vọng ngữ nghĩa luôn lung linh qua khung cửa mở rộng với thơ tự do. Bài thơ tình mang tên “Bài Ca Tình Yêu” có những chữ thật đẹp, cái đẹp làm người đọc bàng hoàng, ông viết:

 

chiều buồn như một lời xin lỗi

quán bia nhễ nhại bên đường.

anh ngồi hoá đá

nắng tháng mười hớt hải đi qua

 

Nét đẹp của chữ trong thơ Nguyễn Đình Chính không hề giả tạo, ông đặt chúng bên cạnh những khắc khoải mà dân tộc ông phải sống chung như sống chung với lũ, đó là nạn bia ôm. Ông nhìn tệ nạn này dưới cặp mắt tỉnh táo và thật thà đưa ra nhận xét:

 

em đấy ư

mắt thâm quầng mất ngủ

bàn tay thô ráp

tình cờ

mùi nước hoa rẻ tiền

 

em đấy

bật nút chai bia thứ nhất

chào nhau

làm quen

cái miệng cười lạ lùng

như hoa nở

 

ai tìm ai yêu nhau

tuyệt vọng săn lùng trái tim dính đạn

thế giới nghèo hèn vẫn đòi ta phải sống.

phải sống

phải thở

phải ăn và

phải yêu

 

ai đi tìm ai yêu nhau

nước mắt cô đơn mồ hôi cô đơn

máu rỏ cô đơn

trong ly bia sủi bọt

 

bật nút chai bia thứ hai

chia thật đều niềm vui ướt

về hai ngả

niềm vui gì

không biết

(hay không thèm biết)

chia thật đều nỗi đau ướt

về hai ngả

nỗi đau gì

không biết

 (hay không thèm biết)

 

tâm hồn đói khát săn lùng

ảo giác tình yêu vô vọng

hoang đường và

ngu xuẩn

 

bật nút chai bia thứ ba

em đây

anh đây

nụ hôn không hề do dự

trút bỏ xiêm y giả mạo

ta ngả vào nhau

giản dị mơ màng

yêu

yêu

em đây

anh đây

vườn địa đàng có thật

 

Đậm đặc yếu tố thời sự

Thơ Nguyễn Đình Chính ngay cả trong tình yêu cũng đậm đặc yếu tố thời sự. Với ông hình như làm thơ là để phác họa lại những gì đang xảy ra trong đời sống, ngay cả tình yêu, thứ hàng quốc cấm không phải dễ dàng để chia sẻ.

 

Là con trai của Nguyễn Đình Thi, một nhà thơ nổi tiếng trong nhiều thời kỳ nhưng Nguyễn Đình Chính không có một nét nào khiến người ta có thể liên tưởng tới người cha của ông. Theo Nguyễn Đình Chính thì ông và cha ông không hề có một chia sẻ nào về thơ ca, ông nói.

 

Có lẽ góc nhìn khác hẳn người cha của ông là một yếu tố tích cực khiến ông đứng riêng ra một cõi, bất kể chỗ đứng này có phù hợp với sự nghiệp của cha ông hay không.

 

Trong bài “Những hạt bụi hoá đá” Nguyễn Đình Chính trêu chọc

 

chúng tôi như những hạt bụi bay

(không phải bay mà chỉ lơ lửng)

lơ lửng lơ lửng

dưới bầu trời tổ quốc mênh mông

trên mặt đất tổ quốc mênh mông

chúng tôi không thể bay lên được

 

đùa giỡn với bầy chim cánh trắng nhởn nhơ chúng tôi cũng không thể sà xuống ngã vào cỏ hoa xanh biếc như ngọc chúng tôi cũng không thể nào phình to hoặc teo tóp lại không thể rẽ ngang rẽ ngữa không thể quay phải quay trái những hạt bụi không thể chết và lại càng cũng không thể sống giữa thiên đường tổ quốc

 

nẻo trời xa

hạt bụi đời

hạt bụi trái tim

hạt bụi hồn tôi

bay đi đâu

bạn ơi

 

chúng tôi như những hạt bụi bay

(không phải bay mà chỉ lơ lửng)

những hạt bụi

đang chầm chậm

hoá đá

hoá

đá

 

Nguyễn Đình Chính quan niệm chỉ viết những gì ông thấy và chia sẻ được. Triết lý đơn giản này thật ra không dễ dàng khi quá nhiều văn thi sĩ theo chân cha của ông là Nguyễn Đình Thi viết theo đơn đặt hàng của Xã hội chủ nghĩa. Hai cha con tuy cùng cầm bút trong nhiều thời kỳ nhưng ngã rẽ của ý thức đã làm ông ngày càng xa hơn mối tình phụ tử.

 

Trong “Bài thơ thắp đèn” Nguyễn Đình Chính”

 

Thắp đèn lên

góp một niềm vui nhỏ

chung triệu niềm vui ánh lửa đồng bào

những ngày này ta nắm chặt tay nhau

nắm thật chặt

cố gắng chạy

chạy

chạy chạy

 

băng qua vũng bùn nỗi buồn cúi đầu nô lệ rửa mặt thật sạch hàng triệu hàng triệu người đang hiện rõ mặt con người hiện rõ mặt con người (không phải mặt con vật) ngẩng lên không còn sợ hãi

 

xin lỗi không thể hiểu được

tức cười

tại sao mà lâu nay lại sợ thế nhỉ

 

thật ra chúng nó chỉ có một dúm

mấy chục thằng bệnh hoạn

lai lịch mờ ám

đang chết sặc trong quyền lực và tiền bạc

 

tôi vẫn mơ tới một ngày

đi phượt cùng anh

hai thằng nằm dài trên đỉnh núi

lục túi hút chung một điếu vi na

tán lăng quăng về thơ tân hình thức

chỉ có thế

rồi tuyết lở chôn vùi năm tiếng

nhưng…

còn lâu hai thằng mới ngoẻo

xin lỗi mấy em thổ mừ cứu hộ

các anh đang thèm một ly cốt nhắc

cốt nhắc thứ thiệt

và có thể

lại một điếu vi na

và cũng có thể

hai em vén váy ngồi xuống đây

trợn mắt lên mà nghe

chẹc chẹc

đang lò mò

bò sang thơ kể

xin lỗi — đéo thể hiểu được

tức cười

giấc mơ nhỏ nhoi mà khó thành chuyện thực

 

thắp đèn lên

góp lửa triệu người

mong một ngày

lửa tự do

sáng bừng đất việt

sáng bừng đất việt

sáng bừng đất việt

 

Nguyễn Đình Chính nhìn chung quanh và làm thơ. Ông đào sâu sự kiện để lật mặt trái của từng sự việc. Bằng những rung cảm của một nhà thơ, vấn đề thời sự được ông nhào nặn thành vật thể có thể cảm nhận được một cách cụ thể. Trong bài “Tôi cũng là người vô gia cư” ông viết:

 

Tôi cũng là người vô gia cư như bà,

thưa bà tiến sĩ, mặc dù tôi cũng có công việc làm đàng hoàng như bà, thưa bà tiến sĩ

 

Tôi là người vô gia cư mặc dù hàng ngày tôi vẫn ăn, vẫn ngủ, vẫn hít thở không khí bụi bặm và vẫn làm tình nhăn nhở trong một ngôi nhà 4 buồng giá hàng trăm ngàn đô la.

 

Bao nhiêu năm nay rồi tôi là người vô gia cư trên tổ quốc của tôi khi tôi viết những bài thơ kể về nỗi buồn bi thảm của dân tộc tôi nỗi buồn đã bị mấy kẻ ác tâm tàng hình nghiền thành bột đổ xuống cống rãnh hôi thối.

 

Tôi là người vô gia cư trên tổ quốc của tôi mỗi khi tôi hát lên bài ca thương cảm giống như bát cháo hoa vẩy lên trời bố thí cho hàng triệu oan hồn lang thang đói khát bị chết oan không hiểu vì sao mình lại chết trong cuộc chiến tranh chỉ mang lại quyền lực và tiền bạc cho một dúm kẻ kẻ ác tâm tàng hình.

 

Buổi chiều hôm nay gió lạnh đổ về

 

tôi nhìn thấy bà đang co ro ngồi trên ghế đá lạnh buốt ngoài công viên, thưa bà tiến sĩ còn tôi thì đang ngồi thu mình trong căn buồng ấm áp.Vậy mà tôi cũng đang lâm vào cảnh khốn nạn như bà, thưa bà tiến sĩ.

 

Bà bị đuổi ra khỏi ngôi nhà xây bằng

tiền bạc gom góp suốt đời của bà

Còn tôi thì bị đuổi ra khỏi ngôi nhà xây bằng niềm tin mà tôi cũng đã dành dụm suốt cả đời tôi

 

Niềm tin mà nhà thơ dành dụm suốt đời không hề dám hoang phí đã một sớm một chiều bị đồng đội, đồng chí của ông tước mất. Chẳng những mất lòng tin mà còn mất cả tự do sáng tác và phát hành tác phẩm của mình. Nguyễn Đình Chính đưa ra những sự thật mà ông cho rằng không dễ thấy. Sau khi qua nhiều hệ thống kiểm duyệt một tác phẩm ra đời đáng lẽ phải hay, phải sắc sảo lắm nhưng thường thì ngược lại, chúng chỉ có thể gọi là tàm tạm mà thôi.

 

-Chắc chắn…anh không biết bây giờ trong nước người ta…

 

Cùng hát lên

 

tôi muốn chia sẻ với bạn

không phải một miếng cơm ăn

 

không phải một manh áo mặc

cũng không phải một chút ít tiền bạc

tôi muốn chia sẻ với bạn

một dúm không khí tự do

để thở

dúm không khí tự do sặc sụa rác bẩn

hàng ngày quắn quại trên đầu chúng ta

 

khó thở quá

 

bạn ơi hãy siết chặt tay với tôi

và cùng hát lên thật to

bài hát của bà chúa Liễu Hạnh

bài hát của bà tổ mẫu Po Inư Nagar

 

kể về hạt lúa trổ bông ngã nghiêng trên cánh đồng kể về bụi cỏ mắt trâu nở hoa rực rỡ trên ngọn đồi cao kể về đàn cá da trơn quẫy mình tung tăng ngoài biển bài hát ngàn năm kể về sông núi đất đai này là của ông bà anh em chúng ta đâu phải của riêng một bọn người dấu mặt đang tàng hình

 

tôi muốn chia sẻ với bạn

nỗi buồn không thể nói lên thành lời

không của riêng ai

nỗi buồn vô gia cư

lang thang

đi hoang

trong ngôi nhà tổ quốc.

 

Quý vị vừa theo dõi tác giả Nguyễn Đình Chính qua những bài thơ cùng nhận xét, chia sẻ của ông đối với sự nghiệp thi ca. Xin trân trọng cám ơn quý vị.

Theo dòng thời sự:

Xem toàn trang