Hàng chục nghìn doanh nghiệp giải thể, vì sao GDP lại tăng?

Theo báo cáo của Cục Thống Kê (Bộ Tài Chính), trong 9 tháng đầu năm nay, cả nước có hơn 48.700 doanh nghiệp giải thể, tăng 118,8% so với cùng kỳ năm 2025.

Con số này tương đương với việc mỗi ngày có gần 600 doanh nghiệp giải thể.

Trái ngược với sự sụt giảm trên, cơ quan của Bộ Tài Chính cũng công bố tăng trưởng tổng thu nhập quốc nội (GDP) của Việt Nam trong cùng thời gian này tăng 9,01%.

Vậy đằng sau sự tăng trưởng đó thực sự đến từ đâu?

Biến động doanh nghiệp chưa phản ánh đủ GDP

Về vấn đề này, TS. Nguyễn Quang A nhận định rằng “biến động số doanh nghiệp ở mức này không có ảnh hưởng đến GDP”.

Theo ông, các doanh nghiệp buộc giải thể hẳn có thể đã không có đóng góp gì được cho tăng trưởng, trong khi số doanh nghiệp còn lại trên thị trường vẫn làm tốt điều này.

Giống với nhận định này, một chủ doanh nghiệp, tự nhận là “người trong ngành”, nói với RFA rằng số lượng doanh nghiệp hiện nay không phản ánh đúng con số hoạt động thực tế.

“Một cá nhân có thể tạo ra nhiều doanh nghiệp khác nhau, thậm chí là hàng chục, cho các mục đích kinh doanh và luân chuyển tài chính của họ.

Một khi thuế má căng lên thì họ có thể giải thể một số doanh nghiệp này.

Bởi vậy mới thấy số lượng doanh nghiệp thành lập, giải thể nhiều đến như vậy sau mỗi quý. Tất cả đều có thể là con số ảo.”

Một chuyên gia làm cố vấn lâu năm cho các doanh nghiệp ở TP.HCM cũng nói rằng các doanh nghiệp giải thể đa phần là những pháp nhân nhỏ nên đóng góp không đáng kể, cũng như không tác động trực tiếp đến tăng trưởng.

Đến đầu năm 2026, Cục Thống kê cho biết số doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước đã “vượt mốc 1 triệu doanh nghiệp”.

Theo kế hoạch, Việt Nam đặt mục tiêu sẽ đạt 2 triệu doanh nghiệp hoạt động đến năm 20230 và tăng lên ít nhất 3 triệu doanh nghiệp vào năm 2045.

Tăng trưởng có những con đường riêng

“Để có thể đạt được tăng trưởng GDP như vậy, họ hẳn sẽ có một con đường khác, con đường riêng để đạt được điều này”, TS. Nguyễn Quang A chia sẻ.

“Với tình trạng lạm phát đang tăng cao, thu nhập không tăng đều và có thể bị chậm”, vị chuyên gia này cho rằng chính phủ có thể tìm đến giải pháp chi tiêu công để “làm nhân tố chính” thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng.

Chính phủ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản đặt ra mục tiêu đưa đất nước hướng đến tăng trưởng hai con số đến cuối năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030.

Theo chương trình này, khắp các địa phương trên các nước đã và đang bị áp chỉ tiêu tăng trưởng, chủ yếu thông qua “tăng tốc, đẩy mạnh” giải ngân, mở rộng đầu tư phát triển hàng loạt các dự án hạ tầng, bất động sản.

Những địa phương nào được cho “không có chuyển biến tích cực, đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng như đề ra” sẽ bị “bật đèn vàng”” đối với một số lãnh đạo tại nơi đó.

“Tư duy mệnh lệnh quen trong giới quân sự và công an - ‘Vừa chạy vừa xếp hàng’ hay ‘’tiền hô hậu ủng’ - đã ăn sâu trong giới lãnh đạo Việt Nam.

Điều này có thể mang lại kết những quả ngắn hạn, nhưng nó cũng có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường về dài hạn. Vì vậy, Chính phủ phải từ bỏ ngay kiểu tư duy đó và dựa vào tính toán khoa học, cân nhắc và thảo luận kỹ”, TS. Nguyễn Quang A phân tích.

Ông cũng nói thêm rằng “bệnh thành tích là căn bệnh ung thư từ lâu của chế độ này”.

Động thái giải ngân “ồ ạt” như kể trên vốn dĩ đang cần một số lượng lớn tiền từ ngân sách mà nguồn thu nội địa chưa thể đáp ứng kịp.

Mới gần đây vào ngày 14/9, Chính phủ Việt Nam đã đi vay ngân hàng thế giới (World Bank) thêm 666,74 triệu USD, thuộc kế hoạch nhà nước dự kiến sẽ vay 969.796 tỷ đồng trong năm 2026.

Với vấn đề này, TS. Nguyễn Quang A nhận định rằng “đến cuối năm 2025, tổng dư nợ tín dụng vẫn rất cao chiếm đến khoảng 143% GDP năm nay. Con số này đến nay chắc còn cao hơn vì trong tháng Chín đã ở khoảng 20,75 triệu tỷ đồng so với 18,4 triệu tỷ đồng của năm 2025”.

“Tăng cường vay mượn, cả vay trong nước và nước ngoài, là con một con dao hai lưỡi. Nếu sử dụng tiền vay một cách hiệu quả, được đo lường bằng hệ số ICOR, thì việc vay để phát triển là cách làm khôn ngoan. Còn ngược lại, nếu việc sử dụng vốn kém và vay quá nhiều thì đó là một liều thuốc độc”, ông phân tích thêm.

ICOR (Incremental Capital Output Ratio) là một hệ số dùng để đo hiệu quả dùng vốn đầu tư. Hiểu đơn giản là một nền kinh tế đang phải cần bỏ ra bao nhiêu đồng vốn để tạo thêm 1 đồng tăng trưởng GDP.

Theo ông, “ICOR bình quân của Việt Nam hiện vẫn ở mức 6, tức 6 đồng đầu vào mới tạo được 1 đồng là rất kém hiệu quả.

Bộ Tài chính trong báo cáo thường niên năm 2026 cũng công bố nhận định rằng, trong giai đoạn 2021 - 2025, hệ số ICOR của Việt Nam vẫn duy trì ở mức 6,4, “việc huy động nguồn lực ngoài nhà nước chưa đạt kỳ vọng”.

Tuy nhiên...GDP vẫn chỉ là một con số

“Có mấy người từ Hà Nội tới thăm kể với tôi rằng không hiểu vì sao con số tăng trưởng mà nhà nước đưa ra rất lạc quan nhưng tình trạng nền kinh tế đang dần suy yếu, khó khăn có thể cảm nhận rõ”, TS. H nói với RFA.

Theo tiến sĩ, nhà nước chỉ đang tập trung thúc đẩy một số lĩnh vực để có tăng trường mà quên đi “bên dưới đáy xã hội, người dân vẫn còn đang sống rất chật vật mà hiện không thấy một khảo sát nào của chính quyền có thể chạm được tới phản ánh an sinh sinh của người dân, mà toàn thấy những con số tăng trưởng hào nhoáng trên báo đài”.

Cố thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường, khi ông còn là bí thư của tỉnh Liêu Ninh, đã không tin vào những số liệu tăng trưởng GDP mà Trung Quốc đưa ra.

Ông khẳng định tất cả các con số tăng trưởng tổng hợp, đặc biệt là thống kê GDP, thực chất chỉ mang tính “để tham khảo”.

Đối diện với sự thiếu minh bạch của hệ thống thống kê cấp tỉnh lúc bấy giờ, vị lãnh đạo tương lai của Quốc vụ viện Trung Quốc tiết lộ rằng ông đã phải tự mình xây dựng một hệ thống đánh giá riêng.

Hệ thống này dựa trên những chỉ số mà ông có thể giám sát trực tiếp được như: lượng tiêu thụ điện năng của người dân, khối lượng mua sắm hàng hóa được vận chuyển bằng đường sắt và số dư nợ vay ở các ngân hàng thương mại.

Căn nguyên dẫn đến sự bất tín đối với số liệu GDP, có bắt nguồn từ cơ chế quản trị và thăng tiến tập trung của bộ máy công quyền Trung Quốc.

Trong nhiều thập kỷ, các quan chức chính quyền địa phương luôn phải chịu áp lực “sinh tử” phải đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế do trung ương phân bổ xuống. Kết quả của con số tăng trưởng GDP từ đó mà trở thành những tiêu chí then chốt để đánh giá năng lực chính trị, thay vì theo dõi việc tăng trưởng kinh tế thực chất.

Trở lại Việt Nam, các con số tăng trưởng về GDP mà Chính phủ dự báo và đưa ra luôn có sự chênh lệch đáng kể với con số của các tổ chức tài chính uy tín trên thế giới.

Trong khi Quốc hội, Chính phủ đặt ra dự báo tăng trưởng GDP của nền kinh tế Việt Nam sẽ từ ngưỡng 10% trở lên trong năm 2026, Ngân hàng Thế giới (World Bank) đưa ra chỉ báo ở mức 7,4%.

Một số chức khác cũng đưa ra con số thấp hơn tương tự như Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) mức 7,8%, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) mức 7,5% và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) ở mức khiêm tốn 6,5%.

Các đánh giá quốc tế còn cho thấy hệ thống dữ liệu kinh tế của Việt Nam đang tồn tại những khoảng trống cùng với độ trễ nhất định. Đồng thời mức độ công khai và hạ tầng kết nối chia sẻ giám sát các dữ liệu này vẫn còn tương đối yếu.

Nhà kinh tế học người Anh Charles Goodhart từng đưa ra châm ngôn, mà sau này được biết đến rộng rãi với tên gọi Goodhart’s Law, rằng “khi một số đo duy trở nhất trở thành mục tiêu phải đạt, nó có nguy cơ không còn là một thước đo tốt nữa”.

Đặt trong bối cảnh Việt Nam, theo TS. Nguyễn Quang A, số đo tăng trưởng hai con số đang trở thành thước đo mục tiêu “thì tăng trưởng vốn đã chẳng còn là số đo tốt nữa của nền kinh tế”.

“Tôi nghĩ rằng các chuyên gia của các tổ chức độc lập như vậy có thể đưa ra các ước lượng sát với thực tế hơn vì họ không đặt tăng trưởng làm mục tiêu, tức là không có nhu cầu làm đẹp số đo”, ông nói.