Trong bối cảnh hàng loạt các dự án bất động sản lấn rừng mọc lên khắp cả nước, Chính phủ ban hành quyết định quy hoạch đất lâm nghiệp, điều chỉnh giảm gần 621.000 ha đất rừng so với quy hoạch cũ.
Đây là nội dung nổi bật tại Quyết định số 2018/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 21/10/2026, về việc điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Theo phương án mới, tổng diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc đến năm 2030 sẽ là 15,55 triệu ha với tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc khoảng 42,3%.
So với quy hoạch trước đó vào năm 2024, Quyết định 2018 đã cắt giảm tổng cộng hơn 621.800 ha đất có rừng, gồm hơn 420.000 ha rừng tự nhiên và khoảng 201.800 ha rừng trồng.
Bên cạnh đó, đất rừng phòng hộ cũng giảm hơn 145.000 ha và hơn 182.000 ha đối với rừng sản xuất.
Trong khi để bù đắp cho những con số hao hụt đáng kể này, quy hoạch lại tăng “đất lâm nghiệp chưa có rừng” lên hơn 323.000 ha.
Liên quan đến vấn đề này, trao đổi với RFA, một chuyên gia kinh tế tên T. từ Đại học Kinh tế TP.HCM đã nêu lên các lo ngại về việc “đánh đổi” đất rừng tự nhiên.
“Tôi có đọc nội dung ở Quyết định số 2018 và thấy rằng việc họ đánh đổi một vị trí đất rừng tự nhiên để phát triển kinh tế, xong sắp xếp sang trồng rừng ở một chỗ khác, nơi chưa từng có rừng tự nhiên, để cân bằng lượng rừng đã phá hủy đi. Nếu xét về mặt sinh học và chọn lọc của tự nhiên, thì không có gì chắc chắn rằng những mảng rừng nhân tạo này có thể giữ được ý nghĩa sinh thái như rừng lúc ban đầu”, ông nói.
Cùng với nhận định trên, Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Tiến Thịnh từ Trường Đại học Lâm nghiệp lấy dẫn chứng từ Vườn quốc gia Tam Đảo, cho thấy mức độ đa dạng của các loài chim trong rừng giảm đáng kể, trung bình khoảng 40%, giữa rừng tự nhiên với rừng tự trồng, có nguyên nhân đến từ sự mất cân bằng sinh thái.
Ngay cả khi số lượng loài cây không suy giảm, sự thay thế sinh thái rừng tự nhiên còn làm thay đổi sâu sắc cấu trúc quần xã, đặc tính gỗ và thất thoát lớn lượng lưu trữ carbon. Đây là kết luận của Giáo sư Suzanne Stas từ Đại học Maastricht (Hà Lan) sau khi bà cùng nhóm cộng sự Việt Nam nghiên cứu thực địa tại Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, tỉnh Quảng Trị.
Bên cạnh đó, liên quan đến rừng phòng hộ, ông T cũng cho rằng rừng phòng hộ bao gồm những loại cây có rễ bám sâu xuống lòng đất, tạo thành các mạng lưới liên kết với nhau rất chặt chẽ, giúp ngăn chặn thiên tai, là “lá chắn tự nhiên” của quốc gia.
“Nếu chính quyền không kiểm soát việc cung cấp đất rừng cho các doanh nghiệp kinh doanh, sẽ vô tình làm mất đi rừng phòng hộ vốn đã tự hình thành trong thời gian dài, thay thế bằng thảm thực vật kém bền vững hơn, có thể dẫn đến thiệt hại về kinh tế và con người khi mưa lũ, sạt lở xuất hiện”, ông T. phân tích.
Trở lại Quyết định số 2018, lý giải về việc điều chỉnh này, văn bản giải thích rằng quy hoạch cũ đang đặt ra là quá cao so với mức tăng trưởng rừng thực tế.
Bên cạnh đó, việc cắt giảm diện tích rừng phòng hộ và rừng sản xuất nhằm đồng bộ hóa với quy hoạch sử dụng đất quốc gia để ưu tiên không gian cho hạ tầng, công nghiệp, “góp phần phát triển hai con số”.
Định hướng quy hoạch còn nói rõ sẽ chuyển mô hình lâm nghiệp truyền thống, chủ yếu khai thác gỗ, sang mô hình “lâm nghiệp đa giá trị”, bao gồm việc tích hợp “kinh tế dưới tán rừng, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và các dịch vụ môi trường rừng”.
Những định hướng quy hoạch kể trên về đất rừng diễn ra trong bối cảnh nhiều “ông lớn” như Tập đoàn Vingroup, Sun Group, v.v. đang triển khai các đại công trường thương mại trên khắp cả nước.
Tiêu biểu có thể kể đến dự án Khu đô thị du lịch biển Cần Giờ của Tập đoàn Vingroup với quy mô 2.870 ha, vốn đang gây lo ngại về sự tác động tiêu cực đến Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, TP.HCM.
Tại Đà Nẵng, một dự án khác có tên là “Làng Vân” với quy mô 512,2 ha của Vingroup, cũng đang hứng chịu nhiều chỉ trích từ dư luận khi cho rằng Vingroup đang “phá rừng”, “phá biển”, “phá hoại môi trường” để “phân lô bán nền”.
Cùng với Vingroup, một “ông lớn” khác là Tập đoàn Sun Group cũng đang vướng phải sự phản đối lớn từ dư luận và những người dân địa phương, điển hình như ở dự án “Quần thể Du lịch sinh thái Ba Vì - Hợp phần Safari” tại Vườn Quốc gia Ba Vì, Hà Nội cùng chuỗi dự án thương mại khác ở Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng tại tỉnh Quảng Trị.
Thay vì tìm hướng điều trần để làm dịu các phản ứng này, chính quyền lại tìm cách dập tắt bằng việc yêu cầu các nền tảng mạng xã hội ẩn hoặc xóa bài viết. Đó là chưa kể một số người dùng mạng xã hội còn bị cơ quan công an gây áp lực lên gia đình hoặc gửi giấy triệu tập.
Không những bao che cho doanh nghiệp, việc xử lý sai phạm ở các dự án bất động sản dạng này vẫn còn nhiều bất cập khi chính quyền địa phương đang có những sự chậm trễ nhất định trong công tác xử lý, để đến lúc có thiệt hại rồi mới vào cuộc điều tra.
Đơn cử như dự án Khu đô thị thương mại, du lịch, nghỉ dưỡng sinh thái Đại Ninh (Lâm Đồng) có vốn đầu tư 25.000 tỷ đồng do Công ty Sài Gòn - Đại Ninh làm chủ đầu tư. Dù được giao 3.595,45 ha đất từ năm 2010, nhưng phải đến năm 2020, UBND tỉnh Lâm Đồng mới phát hiện dự án làm mất 257,5 ha rừng và để bị lấn chiếm 111 ha đất rừng khác.
Vụ án này có nhiều sai phạm liên quan đến các tội “Nhận hối lộ”, “Đưa hối lộ”, “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, được đưa ra xét xử vào tháng 1/2025, và đến năm 2026, chính quyền địa phương mới chốt phương án giải quyết sai phạm này bằng cách thu hồi “toàn bộ diện tích đất đã giao” và “chấm dứt hoạt động đối với dự án này”.
Trả lời RFA, một số chuyên gia cho rằng chính quyền một mặt chưa tin tưởng vào ý kiến, sự hiểu biết của người dân, mặt khác lại quá kỳ vọng vào “thành tích tăng trưởng”.
“Về bản chất, trong tư duy của một nhà hoạch định, khi đưa ra một quyết sách, một văn bản quy phạm pháp luật thì họ đều có sự tìm hiểu, tham khảo ý kiến từ các chuyên gia, cùng các cơ quan, ban, ngành.
Suốt quá trình đó, những ý kiến của người dân đôi khi có thể bị bỏ qua. Nguyên nhân đến từ thứ nhất vì họ không tin tưởng vào sự nhìn nhận, sự đánh giá chủ quan của người dân. Tuy nhiên, các chuyên gia đôi khi chỉ giỏi về lý thuyết mà không chắc hiểu rõ thực địa như người dân.
Thứ nữa, khi đưa ra một chính sách quy hoạch như vậy, chính quyền sẽ phải cân nhắc giữa các lợi ích và nguy cơ. Họ sẽ phải tự đánh giá và trả lời cho mình câu hỏi chọn cái nào, bỏ cái nào thì sẽ phù hợp hơn. Nhưng nói cho cùng, những nhà hoạch định chính sách cũng là những con người bình thường, và họ vẫn có thể vẫn mắc sai lầm”, theo nhận định của một luật sư từ Đại học Quốc gia Huế.
Còn về việc tăng trưởng, chuyên gia T. từ Đại học Kinh tế TP.HCM cho rằng việc Chính phủ ban hành Quyết định số 2018, điều chỉnh giảm diện tích đất rừng, là “đang phù hợp” với phương hướng tăng trưởng hai con số hiện nay.
Theo vị chuyên gia này, “từ khi ông Tô Lâm lên nắm quyền thì rất dễ thấy nhiều doanh nghiệp được tạo điều kiện, triển khai hàng loạt dự án bất động sản. Tất cả các mục tiêu, chính sách kinh tế hiện nay ít nhiều đều thể hiện ý chí của người đứng đầu.
Ai cũng có tính ưa về thành tích, và người lãnh đạo mới lên của Việt Nam cũng vậy thôi. Nếu Việt Nam đạt được kỳ vọng hóa rồng qua các con số tăng trưởng trong vài năm nữa thì đây sẽ là dấu ấn đáng nhớ trong nhiệm kỳ của ông Tô Lâm”.
Ông cũng nhắc thêm rằng “cũng cần nhìn về tính chất hữu hạn về tăng trưởng của một quốc gia”. Vì đối với những nước Đông Nam Á như Việt Nam thời kỳ tăng trưởng tiềm năng chỉ giới hạn trong khoảng 20 - 30 năm, tức thời kỳ gọi là dân số vàng, sẽ thuận lợi hơn trước khi một số tiêu chí như mật độ dân số, độ tuổi, v.v. còn phù hợp cho việc này nữa.
Mặt khác, Tiến sĩ Nguyễn Quang A lại cho rằng tăng trưởng kinh tế là mục tiêu cần thiết nhưng việc tăng trưởng phải dựa trên một nền tảng bền vững theo tầm nhìn dài hạn, mà ở đó là đặc biệt chú trọng đầu tư cho giáo dục.
“Vì không có một người được học hành tử tế thì làm sao có thể bắt kịp được các trào lưu công nghệ mới. Đó chính là tầm nhìn dài hạn. Tầm nhìn này không thể muốn là có ngay được.
Còn như chúng ta chỉ nhìn vào tăng trưởng ngắn hạn, ví dụ làm bất động sản, những thứ chỉ cần cốt thép xi măng, ta sẽ có tăng trưởng ngay tầm trong ba tháng. Nhưng mà nếu tính không khéo, thế hệ sau sẽ là phía gánh chịu hậu quả nặng nề”, ông nói.
Trước những áp lực tăng trưởng và nhu cầu huy động lớn nguồn lực xã hội cho việc này, từ năm 2025 đến nay, Chính phủ đã và đang “mở rộng cửa” cho nhiều doanh nghiệp bất động sản được tiếp cận với quỹ đất, đẩy nhanh tiến độ bàn giao mặt bằng, trong đó bao gồm nhiều diện tích là rừng tự nhiên, để phát triển các đại dự án bất động sản, nhằm góp phần vào mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Tính đến cuối năm 2025, tổng diện tích rừng Việt Nam duy trì ở mức 14.971.553 ha. Trong đó có 10.079.366 ha là rừng tự nhiên và 4.892.187 ha là rừng trồng.
Theo thống kê trong vòng 10 năm, từ năm 2006 đến 2016 đã có 2.991 dự án chuyển đổi 386.290 ha rừng sang mục đích sử dụng khác, trong đó diện tích rừng tự nhiên bị chuyển đổi chiếm tới 78%.
Trong những năm tiếp theo suốt thời kỳ này, diện tích rừng tự nhiên đã có sự suy giảm liên tục, trong khi lại gia tăng nhiều hơn diện tích rừng tự trồng.
Bên cạnh đó, rừng ngập mặn nguyên sinh gần như biến mất ở nhiều tỉnh ven biển. Tại vùng đất bùn U Minh Thượng và U Minh Hạ thuộc miền Tây Nam Bộ, là hai nơi còn lưu trữ lượng rừng tràm trên đất than bùn lớn nhất Việt Nam, diện tích rừng tràm than bùn từ khoảng 400.000 ha (năm 1950) hiện chỉ còn khoảng 10.300 ha (năm 2016).
Sự mất mát rừng tự nhiên nguyên sinh làm suy giảm khả năng phòng hộ đầu nguồn, điều tiết nguồn nước và kiểm soát lũ lụt, đồng thời thu hẹp nơi cư trú, đe dọa sự tồn tại của nhiều loài sinh vật.
Số lượng các loài động, thực vật bị đe dọa tuyệt chủng trong “Danh lục đỏ Việt Nam” cũng tăng vọt từ 836 loài (năm 2007) lên 1.398 loài (năm 2024). Trong đó, loài Tê giác một sừng Việt Nam (Tê giác Java) đã chính thức bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên từ năm 2011.
