Ba nguyên nhân khiến chính quyền quyết tâm dẹp bỏ nhóm “con ghét bố mẹ”?

Theo ghi nhận của RFA, nhóm “con ghét bố mẹ” đã bị tạm dừng hoạt động bởi quản trị viên vào ngày 10/10. Đây là động thái hoạt động mới nhất sau việc nhóm này bị Bộ Công an yêu cầu Meta chặn hiển thị tại Việt Nam vào ngày 6/10.

Những động thái này của chính quyền không chỉ đơn thuần ưu tiên giải quyết mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái, sâu xa hơn, sự kiểm duyệt các nội dung về gia đình còn là tấm vải che đậy đi các bất bình đẳng về vấn đề an sinh.

Nhóm “con ghét bố mẹ” là gì?

Được biết, hội nhóm “con ghét bố mẹ” được thành lập vào năm 2021 trên nền tảng mạng xã hội Facebook, với số lượng thành viên khiêm tốn chỉ 40.000 người tham gia.

Mục tiêu của nhóm là tạo không gian cho các thành viên có thể chia sẻ các vấn đề gặp phải ở vai trò là con cái như áp lực từ việc học hành, thi cử, đến việc gặp bạo hành gia đình. v.v. khuyến khích việc tâm sự bày tỏ những nỗi buồn trong gia đình khi họ ghét bố mẹ.

Ngày 29/9, các trang tin nhà nước ồ ạt đưa tin về sự xuất hiện của nhóm này, đồng thời ghi nhận số lượng thành viên tăng vọt từ con số khiêm tốn ban đầu lên gần 400.000 thành viên.

Từ thời điểm kể trên, không gian ban đầu dành cho những tài khoản chia sẻ việc việc làm con cái thì nhóm này đã có nhiều bài đăng hơn với danh tính là phụ huynh. Các bài đăng mang danh tính này cũng có nhiều sắc thái, đa phần là công kích, chỉ trích giới trẻ, phần thì tiếc thương và tạo cầu nối và cũng có phần cho rằng nhóm này được tạo ra bởi “thế lực thù địch”.

Phản ứng của chính quyền với nhóm “con ghét bố mẹ” ra sao?

Ngày 6/10, chính quyền yêu cầu nền tảng Meta chặn hiển thị nhóm “con ghét bố mẹ” tại Việt Nam, nhằm hạn chế tối đa lượng tương tác của người dùng mạng xã hội tiếp cận các nội dung được đăng tải trong nhóm.

Ngày 7/10, Công an tỉnh Hưng Yên đã làm việc với một quản trị viên của một hội nhóm khác có tên “Những người ghét bố mẹ”, với số lượng chỉ 1000 thành viên, nhằm làm rõ động cơ, mục đích của việc thành lập nhóm . Công an cho rằng nhóm này có chứa nhiều bài viết “tranh cãi, có nội dung tiêu cực”.

Ngày 10/10, nhóm “con ghét bố mẹ” lần nữa được xướng tên trong bài viết của VOV. Theo đó, ông Lê Anh Tuấn, phó trưởng phòng 5 thuộc Cục An ninh mạng, cho rằng các hội nhóm này xuất hiện nhằm lôi kéo, thao túng và lừa đảo giới trẻ thông qua cách tác động vào tâm lý những người có độ tuổi chưa trưởng thành.

Ngày 12/10, tờ CafeF có đăng tải bài viết phân tích pháp lý của về việc làm việc với quản trị viên nhóm “Những người ghét bố mẹ”.

Dẫn theo phỏng vấn, ông Đào Trung Hiếu, chuyên gia Tội phạm học, cho rằng “ranh giới pháp lý không nằm ở cảm xúc yêu hay ghét, mà ở cách thức biểu đạt và những quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.”

“Khi một người cố ý bịa đặt thông tin nhằm hạ thấp uy tín của cha mẹ, xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, công khai trái pháp luật bí mật đời tư hoặc kích động bạo lực, hành vi không còn đơn thuần là bày tỏ cảm xúc. Tùy tính chất, mức độ, người thực hiện có thể phải chịu trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự.” - ông chia sẻ.

Khi được hỏi về giải pháp, vị chuyên gia này lo ngại rằng những cảm xúc tiêu cực của giới trẻ rất dễ bị thao túng, thâu tóm và dễ bị lợi dụng bởi những mục đích xấu bởi nhiều thế lực.

“Bên cạnh việc xử lý đúng những hành vi vi phạm, gia đình cần khôi phục khả năng đối thoại, nhà trường cần phát huy vai trò tham vấn tâm lý và người trẻ cần có những kênh hỗ trợ đáng tin cậy.” - ông nhấn mạnh.

Phản ứng của nhà cầm quyền đối với nhóm “con ghét bố mẹ” cho thấy sự lúng túng, e ngại của họ trong việc đảm bảo duy trì gia đình hạt nhân trước những bị chất vấn và nguy cơ dẫn đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Thứ nhất, đe dọa đến của xu thế xây dựng gia đình hạt nhân

Trả lời báo Pháp luật, Vụ Gia đình, thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nhận định mô hình gia đình hạt nhân (hay gia đình 2 thế hệ) là mô hình gia đình có cấu trúc nền tảng của xã hội Việt Nam.

Mô hình này được xem là xu hướng phát triển chính trong cấu trúc xã hội việt nam, thay đổi từ mô hình gia đình truyền thống đông thế hệ. Sự phân hóa này cũng được đánh giá thay đổi dựa trên địa lý, với các vùng thành thị thì xu hướng này tăng rõ rệt so với các địa phương phi đô thị.

Theo đó, Chiến lược Xây dựng Gia đình tại Việt Nam khẳng định rằng “việc xây dựng mô hình hạt nhân gắn chặt với sự phát triển bền vững của xã hội, sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội.”

Đáng chú ý, việc xây dựng gia đình hạt nhân cũng có hàm ý các thành viên trong gia đình có khả năng tự chăm sóc lẫn nhau. Yêu cầu này đặt ra việc cha mẹ phải chăm lo cho con cái trong giai đoạn khởi đầu và ràng buộc trách nhiệm con cái phải phụ dưỡng cha mẹ ở giai đoạn cuối đời.

Việc thúc đẩy các hành động này sẽ giúp nhà nước tiết kiệm chi phí an sinh cho trẻ em lẫn người cao tuổi, dễ dàng thoái lui vai trò của họ trong việc đầu tư các chi phí về an sinh xã hội.

Qua sự hoạt động của nhóm “con ghét bố mẹ” có thể dễ dàng nhận thấy những mâu thuẫn, xung đột của các thành viên trong nhóm này đều đặt vấn đề cho các rạn nứt giữa cha mẹ và con cái. Câu chuyện không chỉ dừng lại về việc chất vấn về sự yêu thương trong gia đình mà còn mở rộng ra các vấn đề về kinh tế (như sinh kế, điều kiện vật chất nuôi dạy con, công việc làm của con, v.v.), vấn đề sinh kế (mức lương lao động, bảo hiểm xã hội, v.v.) và vấn đề đảm bảo về các chính sách khuyến sinh (các điều kiện y tế, giáo dục, phát triển cá nhân, v.v.).

Từ đó cho thấy, các xung đột thế hệ giữa cha mẹ và con, một mặt, có thể phản ánh được các lỗ hổng xã hội về sự chăm sóc giữa các cá nhân. Mặt khác, nó còn có thể làm chất xúc tác cho sự mất niềm tin giữa cha mẹ và con cái. Từ đó, ảnh hưởng đến cấu trúc gia đình hạt nhân mà nhà cầm quyền đang ra sức gia cố, thông qua đó để phục phụ cho các mục tiêu phát triển về công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà không cần quá đầu tư vào các yếu tố an sinh cốt lõi.

Thứ hai, làm bộc lộ điểm yếu của các chính sách khuyến sinh

Trong các cuộc thảo luận của nhóm “con ghét bố mẹ” cũng đặt ra nhiều vấn đề về các chính sách khuyến sinh hiện nay. Một tranh luận thường gặp là việc các yếu tố nào cần được đảm bảo khi một cặp vợ chồng muốn có con? Chưa nói đến việc đứa trẻ đó phải được nuôi dạy một cách đầy đủ?

Từ đây, một lát cắt về việc khuyến khích sinh sản và các chính sách liên quan của nhà nước được mọi người chú ý nhiều hơn.

Trên các trang tin của chính quyền, việc sinh con được tuyên truyền như là quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng dù là đối với chính mình hay thậm chí là xã hội.

Họ đồng thời cũng phê phán rằng việc các cặp đôi “e ngại” hay “e sợ” kết hôn và sinh con khiến cho tỷ lệ sinh giảm, là nguyên nhân đưa đến việc thiếu nguồn lực lao động trong xã hội, hay trầm trọng hơn, còn dẫn đến những hệ lụy xấu về an sinh, an ninh, thậm chí là môi trường.

Nhằm ứng phó, nhà nước đã có bước đầu ban hành các văn bản điều chỉnh như Quyết định số 588/QĐ-TTg về Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030; sửa đổi Pháp lệnh Dân số 2003 nhằm bỏ giới hạn số con; hay sửa đổi Luật Bảo hiểm Xã hội để tăng số ngày được hưởng bảo hiểm cho cha mẹ có con; v.v.

Nhưng các vấn đề gốc rễ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện đảm bảo và đồng hành cùng các chính sách khuyến sinh vẫn chưa được xem xét và giải quyết. Trong đó bao gồm cả vấn đề an cư - lạc nghiệp, y tế, giáo dục, v.v. đan cài với nhau một cách sâu rộng.

Những câu chuyện trong nhóm “con ghét bố mẹ” đã chất vấn tiệm cận đến các vấn đề này. Nhiều thành viên đã than phiền rằng việc họ không thể nuôi dạy con tốt đã chỉ ra vấn đề về sinh kế ảnh hưởng trực tiếp đến họ thế nào. Từ đây, câu chuyện đổi trọng tâm sang hướng người trẻ đã từ vị thế nhạy cảm với chuyện sinh con nay lại tin tưởng rằng quyết định “không sinh con trong xã hội bất ổn” lại trở nên đúng đắn.

Thứ ba, làm gián đoạn nguồn cung của “lực lượng lao động giá rẻ”

Nếu người trẻ ngày càng trì hoãn kết hôn hoặc sinh ít số con do áp lực đến từ kinh tế, điều kiện nhà ở và những bất ổn trong đời sống gia đình, mức sinh tại Việt Nam có thể thấp hơn mức sinh thay thế.

Hệ quả là tỉ lệ tái tạo lao động sẽ giảm, dẫn đến quy mô lực lượng lao động ngày càng thu hẹp qua từng thế hệ. Về dài hạn, điều này làm tăng áp lực lên quy mô lực lượng lao động tương lai, ảnh hưởng cụ thể đến nền công nghiệp FDI và mức tăng trưởng GDP.

Theo đó, FDI là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong nhiều thập niên, Việt Nam thu hút các doanh nghiệp nước ngoài nhờ sự kết hợp giữa chi phí lao động cạnh tranh, khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và môi trường đầu tư.

Theo báo cáo FDI Qualities Review of Viet Nam của OECD, lực lượng lao động dồi dào với chi phí cạnh tranh đã giúp Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong các ngành đòi hỏi sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày và điện tử.

Báo cáo cũng cho biết năm 2023, doanh nghiệp nước ngoài tạo ra khoảng 34% tổng việc làm chính thức tại Việt Nam; gần 90% số việc làm do các doanh nghiệp này tạo ra thuộc lĩnh vực sản xuất, chế biến, chế tạo.

Do vậy, năng lực cung ứng lao động của Việt Nam là một trong những yếu tố tối trọng hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài.

Tác động tiếp theo nằm ở tăng trưởng GDP. Về cơ bản, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào cả số lượng lao động tham gia sản xuất lẫn năng suất mà mỗi lao động tạo ra.

Nếu lực lượng lao động tăng chậm hoặc thu hẹp, Việt Nam sẽ phải dựa nhiều hơn vào việc phải tăng năng suất, tự động hóa và đổi mới công nghệ để duy trì tốc độ tăng trưởng.

Mặt khác, nếu những yếu tố này không đủ bù đắp sự suy giảm về số lượng lao động, tiềm năng tăng trưởng GDP trong dài hạn có thể bị hạn chế. Đồng thời, nếu chi phí nhân công tăng nhanh hơn năng suất, lợi thế cạnh tranh của các ngành sản xuất có giá trị gia tăng thấp cũng sẽ chịu sức ép.

Đáng lưu ý, tính đến cuối tháng 9/2026, mức GDP của Việt Nam ghi nhận sự tăng trưởng gấp ba lần so với thế giới, ở mốc 9,01%.

Tuy nhiên, theo phân tích của RFA, đời sống của không ít người dân lao động vẫn không ghi nhận dấu hiệu cải thiện, thậm chí họ còn cảm thấy khó khăn hơn.

Vào năm 2023, mức thu nhập bình quân của công nhân Việt Nam được báo cáo rằng vẫn thâm hụt 18% khi được so sánh với mức chi tiêu đủ để một người lao động sinh sống.