Vay tiền Trung Quốc làm đường sắt: “tính không khéo, thế hệ sau sẽ gánh hậu quả”

Sự thiếu minh bạch ở các khoản vay từ Trung Quốc là điều đáng lo ngại nhất.

“Vấn đề ở câu chuyện vay nợ đầu tư phát triển, nếu Chính phủ có thể làm khéo thì điều đó hiển nhiên là rất tốt, còn nếu không, đó sẽ là một gánh nặng đau đớn cho nhiều thế hệ trong tương lai”.

Chậm nhất đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu sẽ hoàn thiện tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng kết với Trung Quốc. Đây là dự án có quy mô xuyên quốc gia, được cả chính phủ hai nước nhìn nhận là một trong những dự án “trọng điểm” có ý nghĩa giao thông và quan hệ thương mại song phương.

Với dự án này, chính quyền Việt Nam đã bắt đầu cho khởi công từ cuối năm 2025, qua các hoạt động giải phóng mặt bằng để làm hạ tầng kết nối ở một số nhà ga của tuyến đường.

Nhưng chưa được bao lâu, dự án này lại bị đội vốn thêm 86.100 tỷ đồng. Quốc hội Việt gần đây vào ngày 24/8 đã thống nhất việc điều chỉnh, nâng tổng vốn đầu tư lên 289.339 tỷ đồng, tăng 42,4% so với tổng dự toán ban đầu.

Nếu quy đổi ra, tổng vốn đầu tư của đại dự án này ở khoảng 10,8 tỷ USD. Trong số này, có khoảng 6,5 tỷ USD là vốn vay của nước ngoài.

Và bên cho vay, không ai khác chính là Trung Quốc. Theo đó, ngân hàng China Eximbank của phía Trung Quốc đang trao đổi với phía Việt Nam về phương án thu xếp khoản vay này.

Đáng chú ý, đây cũng từng là bên cho vay của dự án đường sắt đô thị Cát Linh Hà Đông cùng nhiều dự án lớn khác của Việt Nam đã xuất hiện tình trạng đội vốn trước đó.

Mức độ minh bạch ở dự án này đến đâu?

Đến năm cuối 2024, Ngân hàng Thế giới (World bank) cho biết Việt Nam có 132,907 tỷ USD nợ vay từ nước ngoài.

Suốt quãng thời gian này, từ năm 2000 - 2023, tại một báo cáo khác của AidData, một tổ chức nghiên cứu tại Mỹ, ghi nhận phía Trung Quốc đã cam kết tổng cộng 27 tỷ USD vốn tài trợ chính thức cho Việt Nam thông qua 227 dự án, bao gồm 26,8 tỷ USD dưới dạng các khoản vay tín dụng và khoảng 237 triệu USD là viện trợ không hoàn lại.

Trong số các tổ chức tín dụng đến từ Trung Quốc, China Eximbank là bên chiếm tỷ trọng nợ vay lớn nhất của Trung Quốc đối với Việt Nam. Ngân hàng này đã cam kết cho Việt Nam vay 11,1 tỷ USD qua 45 khoản vay được cam kết chính thức giữa hai nhà nước.

Đây vẫn là dữ liệu gần nhận được ghi nhận đến thời điểm hiện tại.

Trong khi đó, so với dữ liệu quốc tế, Chính phủ Việt Nam rất ít khi công bố thông tin về nợ vay nước ngoài, đặc biệt là với các khoản vay từ Trung Quốc, đối tác thường xuyên tài trợ cho các dự án đầu tư công có quy mô tầm cỡ của Việt Nam.

Tình trạng thiếu minh bạch cũng diễn ra tương tự đối với dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng. Ở dự án này, được biết Chính phủ dự kiến sẽ vay 6,5 tỷ USD từ Trung Quốc, còn ngoài ra đối với các khoản thỏa thuận tài chính song phương thì chưa từng công bố cụ thể.

Trao đổi với RFA, tiến sĩ Nguyễn Quang A, thành viên sáng lập Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), cho rằng vấn đề minh bạch trong các dự án đầu tư công kiểu này là “một đại vấn đề từ trước đến đây”.

“Nhưng thật rất tiếc với những dự án như thế, người dân chỉ biết đó là dự án to, còn những chi tiết khác thì không thể biết gì. Đối với những dự án giao cho công ty tư nhân trong nước cũng vậy thôi. Gọi là xây 5 tuyến metro mà người trúng thầu là ai, quy mô thế nào, nhà nước phải trả ra sao; tất cả đều không rõ. Mặc dù đó là tiền của ngân sách, là tiền thuế của người dân”, tiến sĩ Nguyễn Quang A chia sẻ.

Theo đó, ông cho rằng nhà nước cần bạch hóa những thông tin tài chính liên quan đến dự án cho rộng rãi người dân được biết, và các chuyên gia được quyền tiếp cận, qua đó có thể phân tích được cái hay, dở, hoặc ra là rủi ro để giúp Chính phủ có thể lường trước được.

“Đảng Cộng Sản cùng Chính phủ cần cải thiện trong quá trình thực hiện thông tin, nếu muốn thực hiện lời hứa của dân do dân vì dân”, ông nói.

Trong phạm vi của sự minh bạch, cũng cần phải nói thêm về vấn đề lãi vay ở dự án.

Trước đây, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nay là Bộ Tài Chính, từng đánh giá một số khoản tín dụng ưu đãi của Trung Quốc có lãi suất khoảng 3%/năm, trong khi một số nước khác có mức lãi suất cho vay thấp hơn nhiều như Nhật Bản (từ 0,4 - 1,2%/năm), Hàn Quốc (dưới 2%/năm) và Ấn Độ (1,75%).

Như vậy, tại sao Việt Nam lại không lựa chọn các quốc gia có lãi vay thấp hơn, để tối ưu cho chi phí từ ngân sách nhà nước, thay vì phải chọn vay với lãi xuất cao hơn từ Trung Quốc?

Theo tiến sĩ Nguyễn Quang A, lãi suất sẽ phụ thuộc vào nhiều thứ, và cũng do tính toán nhiều nên rất khó để có thể so sánh rằng tại sao Việt Nam lại đi vay của ‘China’ mà không phải là một nước khác. Vì việc này còn cần phải tính toán thời hạn vay là bao nhiêu năm, hay xu hướng của đồng tiền vay sẽ diễn biến thế nào.

Ông đưa ra ví dụ, “giả sử đồng tiền đi vay có xu hướng giảm, mất dần giá trị thì lãi suất sẽ khác, tức nợ vay sẽ đẻ thêm lãi, hay là ngược lại. Lúc đó, mình mới có thể xác định được chi phí vốn vay đó là cao hay thấp”.

Vì vậy ở hiện tại, bài toán sẽ lựa chọn bên nào để vay vốn, do đó, để mà đánh giá là “rất khó, mang tính một chiều” vì vốn dĩ thông tin ngay từ đầu của dự án này đã không đầy đủ.

Hay họ chỉ “chăm chăm” vào với mục tiêu tăng trưởng?

Ngoài giá trị thương mại, dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng còn mang theo các khẩu hiệu của mục tiêu chính trị về “một kỷ nguyên vươn mình”, được thể hiện qua mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Theo tiến sĩ Nguyễn Quang A, muốn tăng trưởng thì “phải có thêm được nguồn vốn, thêm chi tiêu Chính phủ, và nguồn lực đó thường được huy đồng từ nguồn vốn trong nước hay vay từ quốc tế”.

Tuy nhiên, ông đưa ra “lưu ý” rằng “ở nước nào cũng vậy, tổng nguồn vốn huy động được, ví dụ trong vòng 5 năm, là một con số hữu hạn. Cho nên huy động vốn như thế nào, bao nhiêu để không để gánh nặng cho các thế hệ tương lai, và huy động làm sao cho nó phát triển để kích thích thêm các ngành khác; đó mới là điều cần bàn luận sâu”.

“Đầu tư vào hạn tầng tức nhiên là tốt, nhưng hạ tầng thì cũng có nhiều loại, mà tốt nhất là hạ tầng cho công nghệ, giáo dục và y tế. Vì vậy nếu mà Chính phủ phân bổ nguồn lực hữu hạn ấy cho những lĩnh vực tiềm năng này thì có tỷ suất sinh lợi cho tương lai”, ông phân tích.

Nói về lý do của việc này, ông nhìn nhận Việt Nam bây giờ “chỉ dừng lại ở một nước lắp ráp, kỹ năng lao động còn yếu”. Vì vậy, muốn thực sự tạo ra động cho phát triển, nhảy lên những nấc thang cao hơn của giá trị toàn cầu, nguồn năng lực, hay nói rõ ra là sự hiểu biết của người dân phải tương xứng. Để được vậy, Chính phủ cần phải đầu tư thêm vào cho giáo dục vì không có một người được học hành tử tế thì làm sao có thể bắt kịp được các trào lưu công nghệ mới. Đó chính là tầm nhìn dài hạn. Tầm nhìn này không thể muốn là có ngay được.

Bên cạnh đó, ông còn chỉ ra hệ lụy của việc của việc “chạy đua” theo mục tiêu tăng trưởng.

“Nếu như chúng ta chỉ nhìn vào tăng trưởng ngắn hạn, ví dụ làm bất động sản, những thứ chỉ cần cốt thép xi măng, ta sẽ có tăng trưởng ngay tầm trong ba tháng. Nhưng nếu mà tính không kỹ, làm xuất hiện nhiều dự án ma, bong bong bất động sản, thì không chỉ ảnh hưởng đến tầm nhìn dài hạn, mà còn lãng phí tiền ngân sách, tiền thuế của dân”.